(Đã dịch) Phục Hưng - Chương 31: . Chiếm lĩnh.
Cánh cửa gỗ kẽo kẹt mở ra, quang cảnh phía sau hiện ra trước mắt binh lính Đại Việt. Một tòa thổ bảo bé nhỏ nhưng bên trong chen chúc đông nghịt người, phần lớn là phụ nữ và trẻ con, dáng vẻ gầy yếu, nước da đen sạm. Họ co cụm vào nhau, nơm nớp lo sợ nhìn đám binh lính hừng hực sát khí đang đứng trước mặt. Một lão già nhất, râu tóc bạc phơ, dáng người khắc khổ, run rẩy bước ra.
“Chúng tôi… chúng tôi xin hàng, mong các vị đại nhân tha mạng.” Lão già nói bằng thứ tiếng Hán bập bẹ, chắc lão nghĩ nhóm quân này cũng cùng một giuộc với đám thương buôn người Tàu hay ghé qua đây.
“Nói với hắn rằng bọn ta là người Việt, không phải người Tàu, nên hắn không cần dùng tiếng Tàu để nói chuyện. Hãy nói cho hắn biết, chỉ cần dân chúng tuân theo sự sắp xếp của quan binh thì sẽ không ai phải chết.” Vũ Tiến tuy biết tiếng Hán và hiểu lời lão nói nhưng không trực tiếp trả lời, mà quay sang dặn Tân.
“Những binh lính này đến từ Đại Việt hùng mạnh, họ không phải cùng một bọn với những thương buôn người Tàu. Họ là người Việt. Chỉ cần nghe lời, sẽ không ai phải chết.” Tân liền truyền đạt lại.
“Bọn ta đồng ý.” Lão già trả lời bằng tiếng thổ dân.
“Được rồi, đưa họ ra khỏi thổ bảo. Binh lính canh phòng cẩn thận, ai làm loạn sẽ giết không tha tội. À, Tân ở lại dịch lời cho quan binh.” Vũ Tiến hạ lệnh, đoạn quay người cùng đại bộ phận binh lính rời đi.
Sau khi trận chiến trên b��� đã ổn định, năm chiến thuyền lớn của Thuận Hóa từ từ tiến vào cảng phía trong sông. Mỗi chiến thuyền dài hàng chục mét, cao lớn sừng sững như những tòa thành di động, trấn nhiếp hoàn toàn đám thổ dân xung quanh. Ai nấy đều há hốc mồm khi chứng kiến những con quái vật khổng lồ này, mọi ý định phản kháng đều tiêu tan. Sức mạnh hai bên chênh lệch như trời với đất, còn đánh đấm gì nữa? Phản kháng chỉ là chờ bị đồ sát, chi bằng làm nô lệ còn hơn là chết. Đám thổ dân này chưa xây dựng được một quốc gia thống nhất, không có hệ tư tưởng riêng của dân tộc, càng đừng nói đến tinh thần trung quân ái quốc. Bởi vậy, ý chí chiến đấu giành độc lập tự do của họ không hề cao, nếu là dân tộc khác thì chưa chắc đã như vậy.
Thuyền cập bến, hàng hóa bắt đầu được bốc dỡ. Hàng ngàn người hối hả di chuyển, từng kiện hàng được chuyển đến kho tạm, tạo nên một thanh thế to lớn như một đàn kiến khổng lồ đang chuyển nhà. Nói ra thì lại buồn, cả cái “vương quốc” này không có lấy một con vật kéo nào để chuyên chở hàng hóa. T���t cả đều phải dùng sức người, vừa tốn sức vừa mất việc. Vũ Tiến đành huy động hết số thanh niên trai tráng còn lại trong thành, ngay cả phụ nữ khỏe mạnh cũng phải xắn tay vào làm. Tất cả xắn tay vào làm việc, chỉ chừa lại 500 binh sĩ để canh gác, đảm bảo an ninh trật tự.
Hàng ngàn người làm việc đến tối mịt mới xong. Vũ Tiến liền ra lệnh chia cho đám thổ dân mỗi người một bát gạo rồi đuổi họ đi, trong ánh mắt đầy ngỡ ngàng của họ. Chẳng phải nói là bị bắt làm nô lệ sao? Sao giờ lại được thả thế này, còn được phát gạo nữa chứ? Chẳng phải quá xa hoa rồi sao? Trước đây, phải dùng rất nhiều da lông và gỗ quý mới đổi được từ tay thương buôn người Tàu hay Chà Và cơ mà, sao bây giờ nói phát là phát? Bọn thổ dân tuy ngỡ ngàng, nhưng ngỡ ngàng thì cứ ngỡ ngàng, chứ chúng đâu ngu. Cho mà không nhận mới là ngu. Thôi thì cứ nhận, chẳng thiệt thòi gì, đêm nay cả nhà có bữa ăn thịnh soạn. Còn chuyện sau này, cứ để sau này tính. Mình là cá thịt, người ta là dao thớt, họ muốn mình chết thì làm sao mà chống lại được? Thôi thì cứ kệ đi.
Binh lính sau khi ăn tối xong thì rút lên thuyền nghỉ ngơi, để lại 500 người thay phiên canh gác và bảo vệ kho hàng, phòng ngừa đám thổ dân đánh lén hay phản loạn. Nhưng có vẻ họ nghĩ hơi xa. Đám thổ dân sau khi lấy được gạo liền về làm ngay nồi cháo lớn. Nhà nào nghèo thì nấu với khoai nước, rau dại, nhà giàu hơn thì có thêm chút ngao sò. Ăn một bữa tối no nê thỏa mãn, họ lăn ra ngủ hết. Nếu không thì lại tham gia công cuộc sinh sản, hơi sức đâu mà phản với chả kháng. Còn “đức vua” cùng nhóm dũng sĩ thì đã sợ vỡ mật, trốn biệt vào rừng. Chẳng biết sống chết ra sao, có khi đã bị thú dữ làm thịt hết rồi cũng nên, ai biết được…
Sáng sớm hôm sau, mặt trời vừa thức giấc, con gà trống vừa cất tiếng gáy đầu tiên thì binh lính Đại Việt đã lần lượt thức dậy, chuẩn bị cho buổi rèn luyện sáng, bắt đầu bằng việc chạy nhẹ nhàng ba ki-lô-mét. Cơm ngon, bạc trắng, trang bị tinh xảo không phải tự nhiên mà có, tất cả đều phải đổi bằng mồ hôi và xương máu. Ngày qua ngày, họ ra sức rèn luyện. Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu – đạo lý ấy Đại Hải luôn nhắc nhở toàn quân. Mấy ngày lênh đênh trên biển thì không nói, nhưng nay đã cập bờ, điều kiện đầy đủ cớ sao lại lười biếng? Nhiều ngày không tập luyện, chính binh lính cũng cảm thấy cơ thể mình rệu rã, ì ạch.
Đây chính là sự đáng sợ của thói quen. Ban đầu, việc tập luyện như vậy sẽ rất mệt mỏi, nhưng lâu dần sẽ trở thành thói quen. Rèn luyện đều đặn, nếu bỗng nhiên không tập, sẽ cảm thấy không khỏe, đến cơm ăn cũng chẳng còn ngon miệng nữa. Quân đội của Đại Hải có thể chưa phải là đội quân mạnh nhất thế giới ở thời điểm hiện tại, nhưng chắc chắn là đội quân chăm chỉ và khắc khổ nhất. Sức mạnh của người Việt là vô cùng vô tận, chỉ chờ được khai phá. Một khi đã khai phá được sức mạnh của bản thân, họ sẽ không sợ bất kỳ kẻ thù nào, dù đó là cường quốc số một thế giới hay những đội quân đông đúc, rộng lớn hơn họ cả chục, cả trăm lần.
Nhìn đoàn quân hàng ngũ chỉnh tề nối đuôi nhau chạy, Nguyễn Bình không khỏi cảm thán: “Quả là một đội qu��n tinh nhuệ, kỷ luật!” Hắn vốn hay dậy sớm, nhưng cũng không thể dậy sớm bằng quân Thuận Hóa. Mấy ngày trên thuyền không thấy rõ, nay được mở rộng tầm mắt, một đội quân như vậy, tướng chỉ huy ắt không phải người tầm thường.
“Anh Bình dậy sớm vậy, sao không ngủ thêm chút nữa? Mấy ngày đi biển chắc anh mệt nhọc lắm.”
Vũ Tiến từ phía sau tiến đến chào hỏi. Hắn cũng dậy sớm như binh lính của mình, không ỷ vào chức quyền lớn mà lơ là, lười biếng. Mọi tác phong làm việc của hắn đều mẫu mực, làm gương cho quân sĩ, khiến ai nấy đều nể phục. Dĩ nhiên, với chức quyền lớn như vậy, hắn cũng không nhất thiết phải chạy theo binh sĩ làm gì. Không phải hắn không làm được, mà là điều đó quá đỗi nhẹ nhàng đối với một võ tướng đã rèn luyện từ thuở nhỏ như hắn. Sáng sớm, hắn đã dậy luyện bộ quyền gia truyền, bơi vài dặm quanh cảng rồi mới trở về, trong khi quân sĩ vẫn còn chưa chạy xong.
“Haha, là anh Tiến đấy à? Thói quen rồi, tôi không thể dậy muộn được. Mà tôi cũng ngủ sớm chứ có muộn màng gì cho cam.” Nguyễn Bình ha hả cười nói. Y rất quý mến vị tướng quân này, thấy hắn hiền hòa dễ gần, bớt đi vẻ thô lỗ của một võ tướng mà thêm phần văn nhã của một văn quan.
“Anh đã ăn sáng chưa? Đi ăn cùng tôi, tiện thể bàn bạc chút chuyện cần làm hôm nay.” Vũ Tiến ngỏ lời mời.
“Được thôi. Nhiều người đã mong có cơ hội ăn cơm cùng anh, tôi nào dám từ chối.”
“Anh cứ nói đùa. Đi thôi, đến phòng tôi cho yên tĩnh.”
“Đi bảo nhà bếp chuẩn bị cho ta hai phần đồ ăn rồi chuyển lên phòng ta.” Vũ Tiến quay sang dặn lính hầu bên cạnh.
“Rõ!” Lính hầu lĩnh mệnh rồi quay đi.
Vũ Tiến cùng Nguyễn Bình cùng nhau tiến vào phòng chỉ huy, nơi được sắp xếp riêng cho Vũ Tiến. Họ vừa đi vừa trò chuyện rôm rả.
Nói về Nguyễn Bình có lẽ không ai biết đến, nhưng về Nguyễn An thì nhiều người sẽ biết. Ông là một người con đất Việt tài hoa nhưng lận đận. Sinh ra vào cuối thời Trần, mười sáu tuổi ông đã tham gia thiết kế tu sửa thành Thăng Long. Khi nhà Minh sang xâm lược, cũng như nhiều nhân tài đất Việt khác, ông bị quân Minh bắt về Trung Quốc, bị thiến rồi đưa vào cung phục vụ hoàng đế nhà Minh. Dẫu vậy, tài năng của ông không hề bị thui chột. Ông là một trong những kỹ sư trưởng tham gia thiết kế, điều hành xây dựng Tử Cấm Thành, đồng thời tham gia xây dựng gia cố thành Bắc Kinh và trị thủy sông Hoàng Hà. Người Trung Quốc không khỏi thán phục, nghiêng mình trước tài hoa của ông. Tài năng lẫy lừng, tài hoa kiệt xuất là vậy, nhưng ông lại không thể giúp được đất nước khi ấy đã diệt vong. Đó âu cũng là một sự tiếc nuối lớn của ông và của cả dân tộc Việt.
Ngưỡng mộ và mến tài ông, ngay khi khải hoàn trở về Thăng Long, Đại Hải đã nhờ người đi tìm kiếm. Nhưng trớ trêu thay, kỹ sư Nguyễn An đại tài giờ vẫn chỉ là một đứa bé chín tuổi còn thò lò mũi xanh, vẫn còn đang cùng bạn bè chọc phá làng xóm, bày trò làm bẫy chim… Nhưng may thay, ông không phải tự học mà thành tài. Cha ông, Nguyễn Bình, là một kỹ sư có tiếng, đang tham gia tu sửa thành Thăng Long sau chiến tranh. Đại Hải chẳng từ nan việc nghĩa, lập tức mời ông bằng lễ lộc hậu hĩnh. Lại thêm cố ý xin triều đình cho phép ông mang cả gia đình theo mình vào Thuận Hóa, với danh nghĩa gia cố thành lũy nơi biên cương. Dĩ nhiên, triều đình sẽ không thể từ chối một kiến nghị mang tính xây dựng như thế. Nguyễn Bình, dù có vạn phần không nguyện ý, cũng vẫn phải theo Đại Hải. Nhưng may mắn thay, ông không hề có chút không nguyện ý hay bất mãn nào. Đại Hải dùng đủ lễ nghĩa và của cải để mời, ông chẳng có lý do gì để từ chối. Cùng với ông, còn rất nhiều người tài ba khác trong dân gian cũng được Đại Hải mời cùng đi, nhằm tránh để sau này gặp cảnh chiến loạn mà bị ngộ hại. Những giá trị đỉnh cao của Đại Việt cũng sẽ không vì thế mà bị mai một ở hậu thế. Dù chỉ là một phần nhỏ bé, nhưng Đại Hải vẫn cố hết mình gìn giữ lại cho con cháu mai sau. Đây cũng chính là mục đích và ý nghĩa của hắn khi được tiếp tục sống ở thời đại này.
Đúng lúc này, lính hầu cũng đã bưng bữa sáng tiến vào, gồm hai bát cháo thịt hành lá còn nghi ngút khói, vài quả trứng gà thu được trong thổ bảo cùng một đĩa dưa cải muối chua. Món dưa cải muối chua này vốn là món ăn của nhà quyền quý, hay nói cách khác, của giới nhà giàu. Người thường khó lòng nếm thử. Không phải vì dưa cải quý giá gì, mà là do muối quá đắt. Dưa cải muối, đúng như tên gọi, cần rất nhiều muối, mà nhà bình dân thì khó lòng kham nổi. Phải nói rằng, người Việt ăn sáng khá đơn giản và thanh đạm so với người dân các nước phương Tây, nhưng được cái dễ tiêu, tốt cho sức khỏe. Không như một số nước châu Âu, vừa sáng sớm đã dùng nào thịt, nào mỡ, khiến bụng dạ khó tiêu, phải uống nhiều trà để hỗ trợ tiêu hóa. Chính vì thế mà họ yêu trà, uống trà nhiều đến vậy, thậm chí gây ra chiến tranh cũng chỉ vì lá trà.
Có một số ý kiến vui cho rằng, Hồng quân chiến thắng Bạch vệ trong nội chiến Nga là nhờ kiểm soát được các thành thị, nơi có các nhà máy sản xuất trà. Không biết điều này có thật hay không, nhưng quả thực người Nga tiêu thụ trà rất nhiều, có khi vượt qua cả người Anh – những người nổi tiếng với thói quen uống trà. Điều đó đủ để thấy lá trà quan trọng thế nào trong cuộc sống của người châu Âu. Ở châu Á cũng vậy, muối, sắt, trà, lụa đều là những mặt hàng bị đánh thuế cao, được triều đình hết mực coi trọng. Phía Trung Quốc còn hạn chế việc buôn bán những mặt hàng này với các dân tộc du mục nhằm hạn chế sự phát triển cũng như sức mạnh của người thảo nguyên.
Bản quyền nội dung này thuộc về truyen.free, nơi những câu chuyện hấp dẫn được kiến tạo và lan tỏa.