(Đã dịch) Phục Hưng - Chương 24: . Hoạch định.
Dù trăm nhà vui, trăm nhà buồn, cuộc sống vẫn cứ tiếp diễn, không ai có thể mãi chìm đắm trong niềm hân hoan hay nỗi thống khổ.
Sau chiến dịch tiễu phỉ lần này, gần năm trăm binh sĩ đã hy sinh, hàng chục người khác chịu thương tật vĩnh viễn, buộc phải xuất ngũ.
Dưới chế độ phong kiến, thương binh, liệt sĩ thường chỉ được cấp một khoản tiền an ủi ít ỏi để mưu sinh, cùng với việc miễn giảm thuế phú trong vài năm. Nếu quân địch chiến thắng, đất nước bị diệt vong, họ sẽ chẳng có gì, thậm chí người nhà còn bị liên lụy. Thực tế, khoản tiền trợ cấp cho thương binh liệt sĩ thời bấy giờ quá ít ỏi, lại thường bị quan lại tham nhũng cắt xén. Liệt sĩ đã mất thì không nói, còn thương binh thì cuộc sống sau này sẽ tràn ngập khó khăn. Đây là một vấn đề chung của cả thời đại, không riêng gì Đại Việt.
Nhưng Đại Hải thì khác. Khoản tiền an ủi hắn cấp cho binh lính thực sự vượt xa mức thông thường thời ấy: hai mươi lạng bạc, đủ để một đại gia đình no ấm trong suốt một năm, ít nhất là giúp họ vượt qua giai đoạn khó khăn nhất. Hơn thế nữa, hắn còn có những sắp xếp khác để đảm bảo những người đã xả thân vì mình không phải chịu cảnh cơ cực cả đời. Tuy nhiên, tất cả vẫn cần thời gian và sự bàn bạc kỹ lưỡng để tìm ra giải pháp tối ưu nhất.
Rạng sáng hôm sau, cả tòa thành trở nên náo nhiệt hẳn. Các thương nhân, vốn nhạy bén như mèo ngửi thấy mỡ, đã bày biện sạp hàng từ tờ mờ đất, ra sức rao bán. Khác hẳn mọi ngày, những mặt hàng được coi là "xa xỉ" hôm nay lại bán rất chạy, đặc biệt là vải vóc. Kẻ mua người bán tấp nập, ai nấy đều hớn hở.
Gần trưa, Đại Hải mới tỉnh giấc. Mấy tháng qua, ngày ngày chinh chiến hoặc bôn ba đường xa, cơ thể hắn đã vô cùng mỏi mệt, rất cần một giấc ngủ sâu và trọn vẹn, nhưng khốn nỗi điều kiện chẳng cho phép. Giờ đây, sau chiến dịch tiễu phỉ, Thuận Hóa coi như đã yên ổn, hắn cuối cùng cũng có thể kê cao gối mà ngủ một mạch, chẳng còn phải lo toan đề phòng gì nữa.
“Người đâu, cho gọi Lê Toàn, Vũ Tiến, Nguyễn Trí, Phạm Văn Võ đến sảnh đường, ta có chuyện cần bàn.” “Rõ!”
Dùng bữa xong, Đại Hải ngồi nhâm nhi bát chè xanh, khoan khoái hưởng thụ làn gió nhẹ mơn man da mặt. Mới đầu xuân, gió Lào còn chưa kịp thổi tới, chứ chỉ ít lâu nữa thôi là gió Tây sẽ tràn về, đất miền Trung khi ấy sẽ oi bức không thể chịu nổi. Lại nghĩ đến bộ quần áo dài đang mặc, vừa vướng víu vừa dày lại nóng, chẳng có tác dụng gì ngoài việc gây khó chịu. Mùa đông thì còn tạm được, chứ đến mùa hè mà phong cách ăn mặc vẫn không đổi thì ai mà chịu thấu. Dù biết nó khá đẹp đẽ, nhưng thật sự không phù hợp chút nào! Lụa mát thì đúng là quý hiếm, nhưng đâu phải ai cũng có để diện... Than ôi. Đúng lúc Đại Hải đang thầm than phiền về y phục, các bộ hạ đã tề tựu.
“Bái kiến chủ công.” “Miễn lễ. Ngày thường đâu cần phải khách khí đến thế.” “Thưa chủ công, phép quân thần nào cho phép thần làm thế được ạ?” Lê Toàn đáp. Lê Toàn vốn là người hoàn hảo về mọi mặt, chỉ có điều vẫn còn chút cứng nhắc do mấy chục năm đèn sách, thấm nhuần đạo Nho. Dù mới ngoài ba mươi tuổi, ông lúc nào cũng nghiêm nghị, đăm chiêu như một lão nho già.
“Thôi được rồi, ta không cãi lại ngươi nữa. Mời các vị cứ ngồi xuống, ta có chuyện hệ trọng cần bàn về tương lai của chúng ta.”
Đúng vậy, đêm qua trong tiệc tẩy trần, mượn rượu tỏ bày tâm tư, các thuộc hạ đã tôn Đại Hải lên làm chủ, bày tỏ lòng trung thành và ý nguyện đi theo hắn làm nên đại sự. Đây là mối quan hệ vua tôi, quân thần, chứ không đơn thuần là cấp trên cấp dưới như bình thường. Tất cả đều là những người tinh anh, ai nấy đều hiểu rõ khí số nhà Trần đã tận, khó lòng xoay chuyển cục diện. Họ cũng nhìn ra Đại Hải không phải là kẻ tầm thường trong ao tù, nếu không sao lại dốc sức chiêu dân, tăng quân đến thế. Chẳng cần nói nhiều, trong lòng quân thần đều đã rõ, chỉ thiếu một cái cớ để bộc lộ. Và rượu chính là cái cớ tuyệt vời đó. Nếu Đại Hải không đồng ý, những lời ấy cũng chỉ coi là lời nói mê trong cơn say, vừa bày tỏ được lòng trung thành, vừa không khiến Đại Hải phật lòng hay phản cảm, dù sao thì họ cũng đã mở lời.
“Lê Toàn, báo xem thu hoạch của chúng ta sau chiến dịch tiễu phỉ lần này.” “Rõ.”
“Sau chiến dịch tiễu phỉ lần này, chúng ta thu được ba ngàn không trăm bốn mươi bảy lượng vàng, năm mươi bảy vạn bốn ngàn ba trăm tám mươi chín lượng bạc, một ngàn hai trăm mười lăm xúc lụa, cùng một số nữ trang đá quý trị giá khoảng một vạn lượng. Ngoài ra còn hơn bảy vạn thạch lương thực, và một lượng lớn dê, bò, lợn, gà.”
“Nhiều đến vậy sao!” “Đúng vậy, số tiền này gần bằng thu thuế cả năm của triều đình.” “Tôi e rằng còn hơn thế ấy chứ. Gần trăm vạn lượng bạc, chất đống lên chắc chắn thành một ngọn núi nhỏ.” “Thật ra thì nó chính là một ngọn núi nhỏ đấy.” “Bọn thổ phỉ này quả là giàu có. Khốn nạn, đi làm cướp mà lại kiếm được nhiều đến vậy ư?”
Mọi người đều là kẻ từng trải, nhưng con số thống kê trực tiếp ấy vẫn gây chấn động lớn, khiến ai nấy đều phải kinh ngạc đến nghẹt thở. Ấy là còn chưa kể đến hàng vạn lượng vàng bạc châu báu Đại Hải thu được từ Đảo Giấu Vàng. Chỉ dẹp lũ phỉ này thôi mà số lượng đã kinh khủng đến thế, nếu dẹp hết phỉ tặc khắp Đại Việt thì không biết sẽ thu về bao nhiêu nữa.
Nói về thu thuế thời phong kiến, đặc biệt là giai đoạn mạt kỳ khi các triều đại suy yếu, sự thất thoát là vô cùng lớn. Phần mà quan tham giữ lại thường gấp nhiều lần số nộp lên triều đình. Điển hình như nhà Minh, vào cuối thời Minh, với hơn một trăm triệu dân và vô số thương buôn, ấy vậy mà mỗi năm chỉ thu được hai triệu lạng bạc tiền thuế – một con số khiến người ta phải bật cười. Còn Đại Việt, cuối thời nhà Trần có khoảng hơn năm triệu dân, tiền thuế hẳn cũng không dưới một trăm vạn lạng bạc, chưa kể phần thất thoát do tham nhũng. Triều đình lẽ ra không đến nỗi quá nghèo, nếu không làm sao cứ hai ba năm lại phái quân Nam tiến đánh Chiêm Thành một lần, nuôi sống hàng chục vạn đại quân, bao gồm cả dân phu, dù chỉ trong một tháng, cũng không phải số lượng nhỏ, chưa kể chi phí trang bị vũ khí, áo giáp cho binh lính.
“Bọn thổ phỉ ở đất Thuận Hóa cũng là những băng nhóm khét tiếng ở Đại Việt. Vùng đất này là nơi giao tranh liên tục giữa Đại Việt và Chiêm Thành, nên phỉ tặc mọc lên như cỏ dại, với nhiều trại lớn. Theo thời gian, xung đột leo thang, qua hàng chục năm cướp bóc, tài sản chúng tích tụ không ít. Bọn chúng cướp sạch dân chúng trong vùng, nhiều khi còn tấn công, cướp phá cả thành trì, bất kể là của Đại Việt, Chiêm Thành hay Ai Lao… Chưa kể đến việc chúng đánh cướp các đoàn tải lương hay những chuyến chở chiến lợi phẩm của các bên. Cứ thế, trải qua thời gian dài, của cải tích tụ ngày càng nhiều, khiến chúng càng thêm hung hãn, trang bị vũ khí cũng càng tinh nhuệ. Vô vàn lý do dẫn đến việc tiễu trừ thổ phỉ ở đây lại thu được của cải kếch xù như vậy, nhưng cũng chỉ thổ phỉ ở Thuận Hóa mới có được điều đó. Các vùng khác, thổ phỉ thường nghèo rớt mồng tơi, có tiêu diệt cũng chẳng thu được gì.”
Đại Hải giải đáp thắc mắc cho các thuộc hạ, những người đang ảo tưởng về việc vào rừng làm cướp.
“Chủ công nói chí lý. Làm gì có chuyện một trại phỉ lại có đến mấy ngàn tặc phỉ, đông hơn cả quân binh chính quy. Lại còn trang bị tinh nhuệ, vượt xa quân các lộ.” Nguyễn Trí phụ họa.
“Còn gì nữa không, Lê Toàn?” “Chúng ta còn bắt sống được bảy ngàn bốn trăm ba mươi chín tên thổ phỉ. Bất kể tội nặng hay nhẹ, tất cả đều đã bị đưa đi sửa đường hoặc đào quặng rồi.” “Tốt lắm. Phạm Văn Võ, bên ta tổn thất ra sao?” “Quân ta đã chém giết hơn hai ngàn địch, nhưng cũng có bốn trăm bảy mươi chín binh sĩ hy sinh, năm mươi ba người thương tật vĩnh viễn buộc phải xuất ngũ. Số bị thương nhẹ thì nay đã khỏi hẳn và vẫn tiếp tục phục vụ trong quân. Thương vong chủ yếu là tân binh mới chiêu mộ tại Thuận Hóa.”
“Được rồi, ta sẽ có những sắp xếp đặc biệt cho những binh lính giải ngũ. Tuyệt đối không để họ chịu thiệt thòi.” “Thay mặt toàn thể anh em binh lính, thuộc hạ xin cảm tạ chủ công. Thực tình, khoản tiền an ủi chủ công cấp cho thương binh liệt sĩ đã là quá nhiều rồi, chúng thuộc hạ thật sự không dám đòi hỏi thêm.” “Sao lại nói thế? Anh em binh sĩ cùng ta vào sinh ra tử, sao ta có thể bỏ mặc họ? Làm như vậy, ta nào còn mặt mũi nào để gặp lại anh em nơi cửu tuyền?” “Đa tạ chủ công!”
Tất cả đồng thanh cảm tạ Đại Hải, lòng càng thêm kiên định đi theo hắn. Đi theo một người như vậy còn tiếc gì nữa, dẫu có phải chết cũng cam lòng. Ít nhất, nếu bản thân hy sinh hoặc chẳng may thương tật nặng nề, gia đình cũng không phải chết đói đầu đường hay lâm vào cảnh sống lay lắt.
“Thôi được rồi, không cần cảm ơn ta. Ân huệ gì đâu, đây đều là những gì các ngươi xứng đáng được hưởng. Giờ chúng ta coi như đã có chút vốn liếng, các ngươi nghĩ chúng ta nên làm gì tiếp theo đây?” “Xin hỏi chủ công có chí lớn ở đâu?” Lê Toàn lập tức hỏi. “Chí của ta là cả Đại Việt.”
“Nếu chí của chủ công chỉ dừng lại ở Thuận Hóa, hoặc thêm vài phủ, vài lộ xung quanh, thì chúng ta chẳng cần làm gì nhiều, cứ yên ổn phát triển như bây giờ là ổn. Nhưng nếu chí của chủ công là cả Đại Việt, vậy thì khó nói rồi. Đất Thuận Hóa nhìn thì dễ thủ khó công, nhưng đây không phải là nơi để dựng nghiệp lớn. Thuận Hóa hẹp dài, ruộng đất ít ỏi, không thể nuôi nổi chục vạn đại quân. Muốn bình định Đại Việt, không có chục vạn đại quân thì không thể thành công, thậm chí đó còn là con số tối thiểu. Thuận Hóa nhiều nhất cũng chỉ nuôi được vạn quân. Có thể cố gắng chiêu mộ thêm, nhưng nếu gom hết tráng đinh trong vùng, sức lao động sẽ cạn kiệt. Khi ấy, chưa nói đến việc lập nên đại nghiệp, e rằng chúng ta còn tự mình sụp đổ.”
Phải nói rằng Lê Toàn có cái nhìn vô cùng chuẩn xác về Thuận Hóa. Trải qua mấy chục năm chiến tranh Chiêm – Việt liên miên, cả vùng đất này còn chưa đến chục vạn dân. Dù có gom góp thêm số nạn dân Đại Hải mang tới cũng chưa đầy mười hai vạn. Đừng nói chi đến việc chiêu mộ mười vạn đại quân, ngay cả một vạn quân cũng đã là điều khó khăn. Thời phong kiến, nếu cố gắng khuếch trương quân đội, có thể huy động từ một phần năm đến một phần tư dân số tham chiến. Nhưng đánh như vậy thì kinh tế trong nước sẽ sụp đổ hoàn toàn. Chỉ khi đối mặt với họa diệt quốc, các quân vương mới cắn răng làm liều. Đó là kiểu chiến thắng mà tiêu diệt địch một ngàn, tự tổn hại tám trăm, có thắng cũng chỉ là thắng thảm.
Ngay cả thời hiện đại, khu vực Thuận Hóa, tức là Quảng Trị và một số vùng phụ cận, dân số cũng chỉ hơn sáu mươi vạn người. Chừng ấy dân số mà chiêu mộ mười vạn đại quân đã khó, nói chi đến mười mấy vạn như bây giờ. Hiện tại, Đại Hải có năm ngàn quân đã là cực hạn, muốn mở rộng thêm cũng không thể. Có những thời điểm Thuận Hóa từng tập trung hơn chục vạn đại quân, nhưng lương thảo đều do cả nước cung cấp, chứ riêng Thuận Hóa e rằng không thể tự nuôi nổi số quân đó dù chỉ một tuần.
“Việc này quả là nan giải. Muốn có vùng đất đủ sức nuôi dưỡng chục vạn đại quân, chỉ có thể là đồng bằng quanh kinh đô, hoặc tận phía Nam, nơi Chiêm Thành, Chân Lạp. Thuận Hóa của chúng ta, nếu có thu thập lưu dân, cũng có thể khuếch trương quân số lên chục vạn, nhưng lương thực sẽ phải mua hoàn toàn từ bên ngoài, rất tốn kém. Như thế thì chi phí vô cùng lớn, chúng ta lại không có nhiều bạc đến vậy.” Vũ Tiến trình bày quan điểm.
“Đất Ai Lao cũng có thể nuôi được chục vạn quân, nhưng khi xưa tiên đế tiến đánh phải huy động đến hàng chục vạn quân. Thuận Hóa chúng ta hiện chỉ có năm ngàn binh lính, chưa kể xứ ấy rừng thiêng nước độc, beo hùm độc trùng vô số.” Nguyễn Trí nói thêm.
“Binh quý hồ tinh, bất quý hồ đa. Quân ta nếu tinh nhuệ thì có thể áp chế chục vạn đại quân. Võ thần tôi cho rằng, chúng ta nên tăng cường thao luyện binh sĩ. Quân ta tinh nhuệ, trang bị tinh lương ắt sẽ dễ dàng chiếm được vùng đất rộng lớn để khuếch trương quân đội. Nhưng trước hết, chúng ta cần có bạc. Có bạc mới nuôi được quân, bằng không chỉ là bàn binh trên giấy.”
“Huynh Võ nói chí phải. Gần trăm vạn lạng bạc tưởng chừng nhiều, nhưng miệng ăn núi lở. Chừng ấy tiền cũng chỉ ��ủ lo cho một vạn quân mà thôi. Muốn khuếch trương quân đội, chúng ta cần nhiều tiền hơn thế nữa. Ấy là còn chưa kể đến việc dân sinh, cuộc sống của bình dân bá tánh. Nếu chúng ta nuôi quá nhiều quân, triều đình không những không chi viện mà còn sinh lòng nghi ngờ.”
“Vô tiền nan hành, vô bạc bất thành anh hùng. Nhưng Thuận Hóa vốn dĩ lương thực chẳng đủ dùng, chúng ta lấy gì để kiếm tiền đây? Dân chúng còn nghèo khó, thu thuế cũng chẳng đáng là bao.”
Đại Hải yên lặng lắng nghe các thuộc hạ bàn bạc. Kẻ làm vương làm tướng chỉ cần đưa ra quyết sách cuối cùng, đâu cần việc gì cũng lao đầu vào làm? Có thuộc hạ là để họ góp sức, chứ còn gì nữa.
“Muối! Chúng ta buôn muối mà kiếm tiền. Đầu năm nay, diêm thương là những người giàu có nhất.” “Nhưng muối và sắt đều do triều đình quản lý rất chặt chẽ. Buôn muối lớn như vậy chẳng khác nào buôn lậu.” “Thì chúng ta cứ buôn lậu thôi. Chư vị đừng quên, chúng ta cũng chính là triều đình đây. Vả lại, ở nơi khỉ ho cò gáy này, cách kinh đô cả ngàn dặm, ai mà quản, ai mà kiểm soát cho được? Cứ làm kín kẽ một chút là được.” “Ừm, hay lắm! Ta vốn còn định đi cướp đoạt của kẻ khác đây này.”
“Nguyễn Trí, huynh dẹp ngay cái ý tưởng ấy đi! Dân ta thì tuyệt đối không thể cướp bóc. Người Chiêm, người Ai Lao cũng chẳng giàu có gì đáng kể. Có cướp thì chỉ cướp được của người Tàu, mà người Tàu thì lại quá xa xôi.” “Nhưng nấu muối rất tốn kém, còn làm ruộng muối thì lâu, không biết đến bao giờ mới gom đủ bạc.” “Điều này không cần lo. Ta có cách làm ruộng muối hay nấu muối nhanh mà thu được số lượng lớn. Chỉ cần tìm một nơi kín đáo để mở xưởng là được. Nhưng các ngươi đều quên rằng chỉ dựa vào mấy người chúng ta thì dù có hàng cũng không bán được.”
“Phải phải, hạng võ biền như chúng thuộc hạ thì biết buôn bán gì đâu.” “Thì ra đây là lý do chủ công sai tôi đi tìm kiếm các thương nhân trong thành!” Đến lúc này Lê Toàn mới vỡ lẽ. “Đúng vậy, ta đã tính toán trước việc này rồi. Ta còn tìm được một người rất phù hợp để đứng ra tổ chức, nhưng hôm nay hắn bận việc nên không có mặt ở đây được.”
“Thứ hai, ở Thuận Hóa, người biết chữ còn quá ít. Tạm thời có thể đủ dùng, nhưng về lâu dài thì không được, vô cùng thiếu thốn. Giáo dục là gốc rễ của quốc gia. Dân ngu thì dễ cai trị đấy, nhưng đất nước khó lòng mà phát triển được. Nho giáo tuy có nhiều cái hay, nhưng cũng không ít điểm cổ hủ. Thi từ ca phú lúc thịnh thế thì hữu ích, nhưng nó khó mà giúp dân ta thoát khỏi nạn binh đao. Nho gia độc tài, kìm kẹp không cho các tầng lớp khác vươn lên, lâu ngày ắt thành họa lớn. Hiện nay, những kẻ nắm giữ quyền lực, tài phú của đất nước không phải hoàng thân quốc thích thì cũng là quý tộc, sĩ phu… Chúng ta lại không phải danh môn thế gia, nên sẽ chẳng có mấy ai chịu đến nương nhờ, giúp sức. Chỉ có thể tự mình phát triển lực lượng mà thôi. Ta thấy chữ Hán Nôm khó học, học lâu, để thành thạo thì mất cả chục năm, không tiện sử dụng. Nay ta có một bộ chữ mới, dễ học, dễ nhớ hơn, người sáng dạ chỉ dăm ba tháng là có thể thành thạo.”
“Lại còn có kiểu chữ lạ đến thế sao?” “Ở đời này thiếu gì chuyện lạ đâu. Các ngươi trước hết cứ chọn một trăm người cho học thử, sau đó trăm người này sẽ đi dạy lại cho những người khác. Ta yêu cầu từ cấp đội trưởng trong quân trở lên phải thạo chữ này, còn trong dân gian thì từ cấp thôn trưởng, lý trưởng trở lên phải thông thạo. Đối với bình dân, ai muốn học thì học, hiện tại ta không ép buộc.” “Rõ!”
“Được rồi, ta sẽ giao kế hoạch cụ thể cho từng người sau. Giờ thì các ngươi cứ về nghỉ ngơi đi. Tháng này các ngươi đã vất vả nhiều rồi, mỗi người sẽ nhận ba trăm lạng bạc tiền thưởng.” “Đa tạ chủ công!”
Bản thảo này, với tất cả sự tinh tế trong từng câu chữ, là tài sản trí tuệ độc quyền của truyen.free.