Menu
Đăng ký
Truyện
← Trước Sau →
Truyen.Free

(Đã dịch) Phục Hưng - Chương 23: . Trăm cảnh.

Cả tòa thành tràn ngập trong không khí hân hoan vui mừng khi đoàn quân thắng trận trở về. Khắp đường ngang ngõ dọc là tiếng cười đùa, tiếng trẻ con la hét vui sướng khi nhận được quà từ người cha, người anh.

Một hẻm nhỏ gần tường thành, Dũng xách theo dải thịt sải bước nhanh về căn nhà hắn mới được cấp gần đây, kể từ khi chuyển từ Thăng Long đến. Như bao ng��ời lính khác, hôm nay hắn được về phép thăm gia đình sau cả tháng trời tham chiến, thật không còn gì bằng. Hắn cứ nghĩ phải đi lính hết ba năm rồi mới được về nhà, hay về thăm nhà, dù có đóng quân gần hay xa. Các nơi khác trên đất Đại Việt đều như vậy, dĩ nhiên chỉ đối với quân lính chính quy; binh lính thông thường của các huyện, phủ thì khác, họ vẫn giữ lối ngụ binh cư nông từ xưa đến nay. Và Dũng chính là một lính chính quy, được biên chế giáp da, đao thuẫn và giáo, có thể coi là được trang bị rất đầy đủ, tinh nhuệ rồi. Lính chính quy như hắn thường phục vụ trong các quân Cấm Vệ hay Thánh Dực bảo vệ kinh đô, hoặc biên quân đóng ngoài biên ải. Bởi vậy, việc được cho về thăm nhà thật quá hiếm hoi.

Thời phong kiến, khi tham gia quân ngũ thường kéo dài một mạch ba năm, rất ít khi liên lạc được với gia đình vì gửi thư qua lại rất khó khăn trong điều kiện giao thông tồi tệ như vậy. Có khi hy sinh trên chiến trường mà phải một hai năm sau gia đình mới hay tin. Ngay cả thời hiện đại cũng vậy, khi chiến tranh bùng nổ, mọi việc đều hỗn loạn, không ai biết ai sống ai chết, phải mất cả một quá trình dài xác minh mới có kết luận để gửi về hậu phương. Chưa kể việc người đưa thư hay xe vận chuyển bị tập kích dọc đường, dẫn đến mất mát thông tin. Việc thăm người thân đi lính chỉ diễn ra ở thời bình, chứ thời chiến thì gần như không thể, quá nguy hiểm và mất thì giờ. Càng không nói đến thời phong kiến, khi mà đường xá xa xôi cách trở, đi lại chỉ bằng đôi chân, về thăm nhà hay người nhà đến thăm là điều không tưởng. Chẳng thế mà có chuyện nàng Vọng Phu hóa đá chờ chồng.

Nhưng nói đi cũng phải nói lại, quân dân Thuận Hóa hiện giờ hầu hết đều tập trung quanh thành Thuận Hóa, chẳng có gì xa xôi cách trở cả. Đại Hải cũng là người thấu tình đạt lý, một tháng hành quân chiến đấu thắng lợi rồi, nên để cho người lính về nhà nghỉ ngơi mấy ngày, cho họ vơi nỗi nhớ nhà, cũng như điều chỉnh lại tâm lý. Chiến tranh không chỉ gây ra thương tích thể xác mà còn để lại những vết thương sâu sắc trong tâm hồn. Thương tật thể xác có thể lành, nhưng vết thương lòng th�� khó, cần một thời gian rất dài cùng sự quan tâm, động viên từ gia đình, người thân. Bởi vậy, Đại Hải cho binh lính về nghỉ phép năm ngày, tiện thể phát luôn quân lương và tiền thưởng, ai nấy đều hân hoan.

Quay lại với Dũng, anh lính đất Thăng Long. Dũng vốn là nông dân gần kinh thành, ngày ngày kéo rau vào thành bán, có đồng ra đồng vào, coi như là có của ăn của để, cuộc sống khá giả hơn rất nhiều so với nông dân đương thời. Nhưng chiến tranh Chiêm Việt nổ ra, quân ta thua to, kinh thành lại trưng binh. Đến lượt Dũng, nhờ dáng người cao lớn, hắn được biên vào Thánh Dực quân, theo tướng Khát Chân đi chặn giặc. May mắn thay, chiến thắng đến và hắn cũng không phải bỏ mạng nơi sa trường. Quay trở về Thăng Long thì ruộng rau đã bị phá từ bao giờ, cha mẹ già bị tên ác bá ức hiếp. Báo quan nhưng quan không xử lí, ngày ngày ông bà phải ăn rau dại, cháo trộn mà sống. Ấy vậy mà hắn, quân lương của hắn cũng bị cắt xén đến quá nửa. Bất bình bực tức, hắn đánh tên ác bá, rồi dẫn người nhà theo Đại Hải tướng quân vào Nam. May mà còn kịp, chưa bị tên ác bá trả thù, chứ thân cô thế cô như hắn làm sao chống lại được.

Đều là chuyện cũ, qua rồi thì cho qua hết đi. Lúc đấy nóng đầu mới làm vậy, nhưng nhờ thế mới có cuộc sống như hôm nay. Làm lính cho tướng quân hắn không thiệt thòi gì cả, quân lương không bao giờ thiếu, thậm chí còn được thưởng thêm nếu lập công, cơm ăn no đủ, không phải húp cháo như chuyến trước, đói hoa mắt thì đánh đấm gì nổi. Hôm nay hắn được lĩnh hai lượng bạc quân lương tháng này, cao hơn lương gốc chưa bị cắt xén của hắn ở Thăng Long nửa lạng, cao hơn cả tiền lãi lão Hòa què bán thúng ở cuối thành. Trước đây hắn từng ngưỡng mộ lão, mỗi tháng lão kiếm hơn một lượng bạc, cơm ăn no đủ, thi thoảng còn có cả thịt, sống sung túc như Tết. Giờ đây, hắn còn sung túc hơn cả lão. Ấy còn chưa kể hắn chém được sáu tên phỉ, bắt sống hai tên, tướng quân thưởng cho hắn một lạng bạc cùng miếng thịt này. Số tiền ấy còn nhiều hơn cả khi hắn bán rau ở kinh thành, đủ để cả nhà không phải lo đói, và hắn cũng không phải lo không cưới được vợ. Mải miết suy nghĩ, vừa đi vừa cười, chẳng mấy chốc hắn đã về đến ngôi nhà nhỏ cuối ngõ.

“Thầy ơi, U ơi, con về rồi!”

“Ai đấyyyy, AAAA! Thằng Dũng! Thầy nó ơi, thằng Dũng nó về này! Thằng Mão đâu, anh mày về này!”

Một phụ nữ đứng tuổi ra mở cửa. Không rõ bà bao nhiêu tuổi, nhưng do lao động vất vả và cuộc sống nghèo khó nên trông bà có vẻ già hơn tuổi. Mặt bà rạng rỡ khi thấy chàng thanh niên cao lớn đứng trước cổng, nhưng đôi mắt lại nhòa đi vì nước mắt ứa ra. Đi cùng bà là một ông lão – chồng bà, cũng nghèo và già nhưng thân mình còn rắn chắc do lao động nhiều.

“Dũng về đấy hả, lại đây thầy xem nào. Chà chà, thằng này ngày càng rắn chắc. Mà này, tướng quân cho về hay mày trốn về đấy?”

“Thầy cứ trêu con, tướng quân cho về chứ con nào dám trốn về.”

“Tốt, tốt lắm. Vào nhà đi con, ai lại đứng mãi ngoài cổng. Bà nó này, hôm nay nấu nồi cơm tẻ đãi thằng Dũng.”

“Rồi rồi, nấu một nồi cơm to! Ai lại để con đi đánh trận về mà phải ăn cháo rau bao giờ!”

“Hahahahaha”

Nghe thầy U cười nói mà cổ họng Dũng nghẹn lại. Hắn đi đánh giặc tuy nguy hiểm vất vả nhưng được ăn no, thi thoảng còn có món mặn... còn thầy U ở nhà vất vả mà chỉ có thể ăn cháo cùng rau dại. Được bữa cơm tẻ cũng là để đãi hắn.

Lúa ngoài đồng mới trổ bông, còn lâu mới thu hoạch được. Lương thực dùng cho mấy vạn dân Thuận Hóa vẫn là do Đại Hải cung cấp. Đ���i Hải cũng không có nhiều lương thực gì cả. Một phần mua từ kinh thành mang đến, một phần thu được từ trại phỉ, và một phần khác gom góp từ các thương buôn, nhưng giá cả đắt đỏ mà số lượng cũng không nhiều. Lương thực không nhiều nhưng chắp vá cũng tạm đủ dùng cho đến vụ thu hoạch. Và dĩ nhiên thì không thể phân phát nhiều cho dân chúng bình thường được. Gạo chỉ đủ miễn cưỡng lót dạ, còn muốn no, dân phải đi đào củ ấu, củ mài, hái rau dại ăn thêm. Dẫu vậy nhưng không một lời oán trách.

…………

“Thầy U khổ quá... nhà... có được ăn no không U?”

Dũng nghẹn ngào hỏi cha mẹ.

“Thằng này lo vớ vẩn. Ăn đủ no, không chết đói đâu. Còn no hơn hồi ở kinh đô ấy chứ. Không theo tướng quân thì nhà ta chỉ có nước chết đói, ở đấy mà còn hỏi no hay không no, khổ hay không khổ.”

Thầy hắn nạt ngay.

“Quan chủ sự cũng nói rồi, đợi đến vụ thu, lúa gặt xong tha hồ mà ăn, không phải ăn cháo với rau dại nữa. Mà bây giờ có cháo ăn vẫn là tướng quân cho vay, ruộng cũng là tướng quân phát cho. Ơn đức như thế cả đời này cũng không trả hết nổi.”

“Vâng, thầy dạy phải. Không có tướng quân, không biết nhà ta có qua nổi kiếp này.”

“Mà thằng Mão đâu rồi, sao nãy giờ không thấy nó?”

“Anh Dũnggggg! Em về rồi đâyyyy! Có gì ngon cho em không?”

Từ sau nhà, một thằng bé loắt choắt sáu, bảy tuổi chạy ra, mặt mũi lấm lem như vừa chui từ lò bếp ra.

“Thằng này, chạy chậm thôi không ngã chổng vó bây giờ. Mày đi đâu U gọi mãi không thấy.”

“Khì khì, con vùi củ ấu để tí nữa có cái ăn, cho no bụng.”

“Hôm nay Mão không phải ăn củ ấu đâu nhé, anh mang thịt về này. Cho em tha hồ ăn!”

Dũng lòng chua xót, vừa xoa đầu em đang rối bù mà nói.

“Thịt này tướng quân thưởng cho con vì giết được giặc. Còn có mấy lượng bạc nữa, hôm nào U mua tấm vải, may cho cả nhà bộ quần áo mới.”

“Áo quần thầy U và em vẫn mặc được. Cứ để bạc đấy, sau này dùng để cưới vợ.”

“Không thầy, bạc để nhà dùng. Con đi theo tướng quân không lo thiếu ăn thiếu mặc. Mỗi tháng tướng quân đều phát cho hai lạng bạc quân lương. Lo gì mà không cưới được vợ!”

“Tốt lắm! Tốt lắm. Thằng Dũng nhà ta càng ngày càng có tiền đồ. Nhớ không được phụ ơn tướng quân. Nếu không, thầy sẽ chặt chân mày.”

“Vâng, con nhớ rõ thầy ạ.”

……………..

Cùng lúc đó, ở một con hẻm khác, một người lính mặc giáp sắt, mang theo gói đồ lớn đứng trước ngôi nhà nhỏ.

“Chị Dậu có nhà không, chị Dậu ơi.”

“Ai đấy? Tôi ra ngay đây.”

Một phụ nữ, khuôn mặt khắc khổ, gầy gò nhưng đôi mắt đôn hậu hiền từ, từ sau nhà đi ra. Theo sau còn có thằng bé mười ba, mười bốn tuổi cùng đứa bé gái năm tuổi.

“Quan đến nhà tôi có việc gì ạ. Chồng tôi đi lính vẫn chưa về.”

“Chị à... tôi là bộ hạ của Đại Hải tướng quân... Chồng chị, Đinh Sửu, là thuộc cấp của tôi... Chị à, trong trận đánh trại thủy tặc... anh ấy đã hy sinh.”

Nói đến đây, người quả phụ bật khóc, nước mắt ràn rụa. Đứa con gái nhỏ còn chưa hiểu chuyện gì cũng òa khóc theo. Chỉ có đứa con trai lớn là cắn răng chịu đựng, không khóc thành tiếng, nhưng nước mắt cứ lăn dài trên gò má non nớt của nó.

“Chị... chị đừng khóc, chị đừng buồn... anh ấy đã chiến đấu rất dũng cảm... anh ấy là anh hùng của Thuận Hóa, của Đại Việt.”

Người quả phụ nước mắt vẫn không ngừng được, càng khóc càng nghẹn ngào.

“Thằng nhỏ, lại đây chú bảo. Con bây giờ là trụ cột trong nhà, con phải gắng sức bảo vệ mẹ và em. Có như vậy, cha con trên trời mới yên lòng. Nhớ chưa? Ngoan, đàn ông đổ máu chứ không rơi lệ. Không được làm mất mặt bố, biết chưa?”

“Cháu... hức... cháu nhớ rồi.”

“Ngoan lắm.”

“Nào, cầm lấy bọc này cho chú. Trong đây có hai mươi lạng bạc tướng quân cấp cho, để nhà mình vượt qua cơn hoạn nạn. Còn có xấp vải này với miếng thịt nữa. Nào, hơi nặng đấy, cầm chắc kẻo rơi.”

“Chị ơi, tôi xin phép được ra về. Chị bớt đau lòng, có khó khăn gì, chị cứ đến quân doanh nói cho chúng tôi một tiếng, hoặc đến phủ thành chủ. Không ai trên đất này dám bắt nạt, ức hiếp gia đình chị.”

“Thằng nhóc, nhớ đấy. Có việc gì thì báo cho quân doanh hoặc phủ thành chủ, không ai được phép khinh phụ gia đình liệt sĩ.”

“Vâng... hức hức... cháu nhớ rồi.”

“Vậy tôi xin phép ra về trước. Tạm biệt! Gắng giữ gìn sức khỏe, để anh ấy nơi chín suối có thể an lòng nhắm mắt.”

“Vâng... quan đi thong thả nhé... hức hức... đội ơn quan gia... đội ơn tướng quân.”

Người lính mặc giáp sắt đã đi xa. Đằng sau lưng, tiếng khóc của mẹ con nhà góa bụa vẫn tỉ tê không dứt. Một lúc lâu sau, người quả phụ mới đứng dậy, ôm hai con vào lòng.

“Các con ngoan, cha đã không còn nữa. Từ nay, ba mẹ con ta phải nương tựa vào nhau thôi. Thôi đừng khóc nữa, cha trên trời sẽ phù hộ cho mẹ con mình. Đi, Tèo, ôm bọc vào nhà. Hôm nay có gạo có thịt, mẹ sẽ nấu một mâm cơm cúng cha, cũng là để các con được ăn một bữa cơm thịt no nê.”

“Vâng.”

Đinh Tèo nắm chặt bọc theo mẹ và em vào nhà. Nó là con liệt sĩ, con của anh hùng, nó là trụ cột trong nhà, không được mềm yếu... phải thay cha bảo vệ mẹ và em.

…………

Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh đời. Ngày thắng trận khải hoàn, có trăm nhà vui cũng có trăm nhà buồn. Chiến tranh là thế, vô tình là thế. Nó mang đến vị ngọt vinh quang cho người chiến thắng, nhưng cũng cướp đi biết bao người cha, người con của những gia đình khác. Dẫu biết chiến tranh là vô tình... nhưng lịch sử loài người lại không thể tách rời khỏi nó... vì bản chất con người là như thế mà.

Toàn bộ nội dung này thuộc bản quyền của truyen.free, xin vui lòng không sao chép trái phép.

Trước Sau
Nghe truyện
Nữ
Nam

Cài đặt đọc truyện

Màu nền:
Cỡ chữ:
Giãn dòng:
Font chữ:
Ẩn header khi đọc
Vuốt chuyển chương

Danh sách chương

Truyen.Free