Menu
Đăng ký
Truyện
← Trước Sau →
Truyen.Free

Quốc Triều 1980 - Chương 874: Plaza Accord

Kỳ tích kinh tế Nhật Bản sở dĩ được mệnh danh là kỳ tích, kỳ thực không chỉ vì nước này trỗi dậy trong một khoảng thời gian quá ngắn ngủi, mà còn bởi vì thực trạng phục hồi sau chiến tranh của Nhật Bản vốn rất tồi tệ.

Sau Thế chiến thứ hai, khoảng 40% nhà máy và cơ sở hạ tầng tại Nhật Bản bị phá hủy, khiến tâm trạng chung của người dân trong nước vô cùng sa sút.

Hơn nữa, do chiến tranh gây hao mòn khủng khiếp, họ còn gánh chịu những khoản nợ kếch xù, thậm chí cả quốc gia cũng bị quân đội Mỹ đóng quân tiếp quản.

Vốn dĩ, với một quốc gia bại trận chẳng còn gì như vậy, việc muốn đứng dậy một lần nữa là vô cùng khó khăn.

Chỉ có thể thoi thóp sống tiếp đã không hề dễ dàng, huống hồ là vươn mình trở thành một quốc gia phát triển.

Tuy nhiên, vì lo sợ "tiểu quỷ tử" (người Nhật) trong tình cảnh đường cùng sẽ bị "chiến tuyến đỏ" (phe Cộng sản) lôi kéo, nước Mỹ, dù vừa dùng bom nguyên tử ném xuống Nhật Bản, lại vô cùng thân thiện giúp nước này thực hiện đủ loại công cuộc khôi phục.

Bao gồm việc soạn thảo hiến pháp, cải cách luật đất đai, cải cách lao động, cải cách giáo dục và hàng loạt các cải cách khác.

Mỹ đã giúp Nhật Bản tái cơ cấu kinh tế với tốc độ cực nhanh.

Ngay sau đó là ba năm Chiến tranh Triều Tiên, phe Mỹ phát sinh nhu cầu lớn về vật tư quân sự, hơn nữa còn cần mua sắm từ các quốc gia lân cận.

Đối với Nhật Bản mà nói, đây đương nhiên là một vận may từ trên trời rơi xuống, giúp nước này thoát khỏi tình trạng thiếu hụt nhu cầu nội địa trước đây.

Bởi vậy, dù Nhật Bản sau chiến tranh nát bét, nhưng với sự giúp đỡ của Mỹ, họ đã nhanh chóng thoát khỏi vũng lầy.

Hơn nữa, hai kẻ thù vốn từng đánh nhau sống chết, chỉ sau mười năm, đã "yêu nhau" đến mức "sống chết có nhau".

Nhìn mà xem, quả thật chỉ có thể nói, không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích vĩnh viễn mà thôi.

Tiếp theo đó, về cơ bản, thể chế kinh tế Nhật Bản xem như đã được khởi động lại.

Hơn nữa, chất lượng dân số nói chung cũng vô cùng cao, đồng thời, vật giá ở Nhật Bản khi đó cũng rất thấp.

Điều này cũng có nghĩa là, Nhật Bản sở hữu một nguồn nhân lực giá rẻ, vô cùng thông minh, hơn nữa lại kịp thời nắm bắt làn sóng toàn cầu hóa kinh tế lúc bấy giờ.

Dù cho Chiến tranh Tri��u Tiên kết thúc, Nhật Bản vẫn có thể tiếp tục hưởng lợi từ hoạt động xuất khẩu và thương mại.

Người Nhật Bản đã xác định phương châm "thương mại lập quốc", trước tiên là bán hàng dệt và đồ chơi sang châu Âu và Mỹ.

Sau đó, dựa vào số ngoại hối kiếm được và sự tích lũy kỹ thuật, họ tiến hành nâng cấp ngành công nghiệp, bắt đầu sản xuất thép lớn, máy công cụ, sản phẩm điện tử và ô tô.

Suốt thập niên 60, kinh tế Nhật Bản đều trong giai đoạn phát triển nhanh chóng, hơn nữa còn duy trì tốc độ tăng trưởng GDP trên 10% trong thời gian dài.

Đến năm 1973, GDP bình quân đầu người của Nhật Bản đã từ dưới 3.000 đô la sau chiến tranh, tăng vọt hơn mười lần, đạt đến hai phần ba của Mỹ.

Tốc độ tăng trưởng cao kéo dài như vậy, gần như khiến các nhà kinh tế học trên toàn thế giới phải kinh ngạc há hốc mồm, khiến cả thế giới đều phải dõi theo.

Mặc dù thời gian bước vào thập niên 70, Nhật Bản đã phải hai lần "phanh gấp" vì hai cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 và 1979.

Giá dầu tăng vọt đã mang đến lạm phát nhập khẩu, trong ngắn hạn khiến nhu cầu của Nhật Bản sụt giảm, tiêu dùng hạ thấp, nhu cầu giảm mạnh gây đau đớn, khiến tốc độ tăng trưởng GDP của Nhật Bản giảm tới 4%.

Nhưng đồng thời, hai cuộc khủng hoảng dầu mỏ cũng là cơ hội tuyệt vời để kinh tế Nhật Bản chuyển đổi cơ cấu và sản phẩm của họ thâm nhập thị trường quốc tế.

Bởi vì nếu không có sự biến động đột ngột của tình hình Trung Đông, dẫn đến giá dầu tăng vọt.

Ô tô Nhật Bản, vốn bị người Âu Mỹ gọi là "đồ chơi chuột", căn bản không thể nào thay đổi được gu thẩm mỹ ưa thích xe dung tích lớn của họ, đã phải nhờ vào khả năng tiết kiệm nhiên liệu để mở cửa thị trường Âu Mỹ.

Các công ty Nhật Bản cũng không còn vì chi phí sản xuất tăng vọt mà ngừng nỗ lực, họ đã dồn công sức vào quản lý doanh nghiệp, tối ưu hóa tài nguyên toàn diện, và tổng kết ra một bộ kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp hiện đại thuộc về riêng mình.

Trên thực tế, nguy cơ thì vẫn là nguy cơ, nhưng trong lúc nguy nan cũng luôn ẩn chứa cơ hội.

Năm 1960, hãng ô tô Toyota có sản lượng hàng năm chỉ 150 nghìn chiếc, nhưng đến năm 1980, con số này đã tăng vọt lên 3,3 triệu chiếc.

Một loạt các thương hiệu khác của Nhật Bản như Sony, Toshiba, Matsushita, Mitsubishi cũng đều trở thành những cái tên quen thuộc trong nhà của người tiêu dùng khắp thế giới lúc bấy giờ.

Trong thời kỳ này, một nhóm lớn các công ty Nhật Bản đã dựa vào sản phẩm chất lượng tốt giá rẻ để vươn ra khỏi biên giới, tất cả đều trở thành các công ty xuyên quốc gia hàng đầu.

Tóm lại, Nhật Bản nhờ thành công biến nguy thành cơ, mới khiến mô hình kinh tế chuyển từ kiểu sản xuất thô sơ sang kiểu định hướng kỹ thuật.

Điều này giúp Nhật Bản từ một quốc gia có nền kinh tế nông nghiệp biến mình thành một quốc gia công nghiệp hiện đại hóa, hoàn thành một bước nhảy vọt vĩ đại, phi thường thần kỳ.

Cuối thập niên 70, khi cuốn sách "Nhật Bản số Một: Những gợi ý cho Mỹ" của Ezra Vogel được xuất bản, và khi "Made in Japan" có mặt ở khắp mọi ngóc ngách trên thế giới.

Thế giới cuối cùng cũng phải thán phục kỳ tích của Nhật Bản, và phổ biến cho rằng "Sau này sẽ là thời đại của Nhật Bản".

Vì thế, trên toàn thế giới cũng bắt đầu xuất hiện quan điểm "Nên học tập từ các doanh nghiệp Nhật Bản".

Dù là "Học thuyết quản lý Toyota" hay "Konosuke Matsushita", đều trở thành đề tài nghiên cứu được giới thương mại các quốc gia ưa chuộng nhất.

Tiếng Nhật, vốn chỉ là một ngôn ngữ ít được biết đến, cũng trở nên "sốt" hơn, ngày càng có nhiều người nước ngoài hy vọng có thể làm việc tại các công ty Nhật Bản.

Ngay cả sinh viên Nhật Bản đang du học ở nước ngoài, kế hoạch tương lai của họ cũng có sự thay đổi cực lớn.

Họ không còn ưa chuộng việc giao lưu với người nước ngoài, và sau khi học xong thường sẽ chọn trở về nước.

Điều này là bởi vì họ hiểu rõ, chỉ những người bạn đồng hương mới có thể trở thành nguồn tài nguyên mạng lưới quan hệ trong tương lai của họ.

Nếu họ trở về Nhật Bản, thu nhập của họ sẽ cao hơn rất nhiều so với việc ở lại nước ngoài.

Tất cả những điều này khiến người Nhật cảm thấy những nỗ lực nhiều năm sau chiến tranh cuối cùng cũng nhận được sự công nhận từ một "quyền uy" nào đó, cổ vũ mạnh mẽ lòng tự tin dân tộc.

Tuy nhiên, điều vô cùng thú vị là, khi Nhật Bản đang trỗi dậy thành công, người dân Nhật Bản mang theo sự phấn khởi và kích động, cùng nhau bước vào thập niên 80.

Nước Mỹ, vốn từng ra sức nâng đỡ Nhật Bản, lại đi ngược chiều, vừa đúng lúc rơi sâu vào cảnh khốn khó của suy thoái kinh tế.

Trong thập niên 70, Mỹ trước tiên đơn phương tuyên bố cắt đứt liên kết với vàng, thoát ly khỏi hệ thống Bretton Woods.

Tiếp theo đó, hai cuộc khủng hoảng dầu mỏ lại khiến Mỹ rơi vào tình trạng lạm phát tăng vọt, có lúc lên đến 14%.

Đồng thời, kinh tế trong nước Mỹ đình trệ, rơi vào tình trạng "lạm phát đình đốn" vô cùng nghiêm trọng.

Tư duy của người Mỹ không giống người Nhật, họ luôn tập trung vào tài chính, quen dùng các thủ đoạn tài chính thuần túy để giải quyết vấn đề.

Paul Volcker, chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang mới nhậm chức, đã mạnh tay đưa ra quyết định tăng lãi suất một cách cực đoan để kiềm chế lạm phát.

Năm 1981, ông đã trực tiếp đẩy lãi suất liên bang lên đến 20%.

Lạm phát quả thực đã được kiềm chế, nhưng tác dụng phụ cũng vô cùng rõ ràng.

Các biện pháp cực đoan đã kìm hãm kinh tế Mỹ, thậm chí khiến nước này rơi vào suy thoái.

Ngoài ra, việc tiền tệ tăng giá cũng tạo ra bong bóng thị trường chứng khoán cực lớn.

Đồng thời, do đồng đô la tăng giá, xuất khẩu của Mỹ bị tổn thương nghiêm trọng, dẫn đến thâm hụt thương mại cực lớn.

Đúng lúc này, lợi dụng việc đồng đô la tăng vọt, nhiều sản phẩm chủ lực của Nhật Bản khi đó đã "ra đòn" mạnh mẽ vào Mỹ, nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường nước này, khiến các doanh nghiệp bản địa của Mỹ không ngừng kêu khổ.

Như người ta thường nói, nhìn người khác kiếm tiền còn khó chịu hơn cả việc mình thua lỗ, huống hồ cả hai điều này lại cùng tồn tại?

Thế là, chỉ trong chớp mắt, quan hệ giữa hai quốc gia Mỹ và Nhật lại trở nên xấu đi.

Mối quan hệ "đại ca" và "tiểu đệ" vốn hòa thuận giờ phút chốc đã xích mích đến mức muốn trở mặt.

Công nhân ô tô Mỹ đã đi đầu công khai đập phá xe Nhật Bản trước mặt mọi người, khẩu hiệu và tin tức kiểu "Nhật Bản cút khỏi nước Mỹ" bắt đầu lan tràn khắp nước Mỹ như nước vỡ bờ, bùng nổ không thể ngăn cản.

Tâm lý "phản Nhật" nhanh chóng lan rộng từ ngành ô tô sang các ngành khác như trò chơi điện tử Nhật Bản, máy công cụ CNC Nhật Bản, máy đào đất Nhật Bản, máy ghi âm Nhật Bản, và cả xe gắn máy Nhật Bản. Hầu như tất cả sản phẩm của Nhật Bản đều bị công nhân Mỹ phản đối.

"Chống Nhật" trở thành ý thức chủ đạo của Mỹ trong giai đoạn đầu thập niên 80, là "chính trị đúng đắn" của Mỹ.

Thượng viện và Hạ viện Mỹ liên tục có người đưa ra các dự luật trừng phạt thương mại và dự luật trả đũa Nhật Bản.

Để giành phiếu bầu, một số chính trị gia Mỹ khi đó thậm chí công khai phát biểu những lời lẽ mang nặng ý nghĩa kỳ thị chủng tộc.

"Kỳ tích kinh tế Nhật Bản có được là thế nào? Chẳng phải do chúng ta, người Mỹ, tạo ra sao. Rời khỏi Mỹ, kỳ tích của Nhật Bản chỉ là đồ bỏ đi..."

"Từ Thế chiến thứ hai đến bây giờ, người Mỹ đổ máu hy sinh trên Thái Bình Dương là vì cái gì? Chẳng lẽ là để lũ khỉ da vàng cưỡi lên đầu chúng ta? Sớm biết vậy, đáng lẽ ban đầu nên giao Nhật Bản cho người Nga, để người Nga nô dịch chúng..."

"Bây giờ lũ khỉ da vàng này giả vờ hữu hảo với chúng ta, nhưng sau lưng lại trộm tiền, trộm kỹ thuật của chúng ta, khiến công nhân chúng ta thất nghiệp, không nhà để về. Những nghị viên bây giờ vẫn còn giúp người Nhật nói đỡ, chính là những kẻ Mỹ gian không hơn không kém..."

Thậm chí cả c��c chuyên gia kinh tế nổi tiếng từ các trường đại học khắp nước Mỹ, nhóm đạt giải Nobel, cũng xuất phát từ tâm lý "ăn theo danh tiếng", thể hiện tinh thần trách nhiệm xã hội, rầm rộ gia nhập vào hàng ngũ "phản Nhật".

Họ phân tích "sự xâm lược kinh tế" mà Nhật Bản đã thực hiện đối với Mỹ từ góc độ kinh tế học mà họ am hiểu.

Vì thế, người dân Mỹ tập thể công phẫn, vung tay hô to, hỏi chính phủ, "Rốt cuộc là ai đã thắng Thế chiến thứ hai?"

Dưới tình hình này, chính phủ Mỹ đương nhiên là như ngồi trên đống lửa, như bị kim châm sau lưng, như bị nghẹn ở cổ họng.

Bị buộc phải chịu áp lực từ mọi phía, họ nhanh chóng liệt Nhật Bản vào danh sách "quốc gia thương mại không công bằng", và cùng với đó là mở ra một cuộc chiến tranh thương mại.

Mỹ đã chọn các biện pháp mang tính áp đặt.

Trực tiếp hạn chế số lượng xe Nhật Bản nhập khẩu hàng năm, đồng thời đánh thuế quan cao tới hàng trăm phần trăm đối với các sản phẩm điện tử của Nhật Bản.

Nhưng trên thực tế, những hành động này lại không có mấy tác dụng, sản phẩm của Nhật Bản vẫn hiệu quả hơn hàng hóa của Mỹ.

Vì vậy, rất nhanh người Mỹ lại nghĩ đến chiêu thứ hai – muốn làm cho đồng đô la mất giá.

Người Mỹ tự tin rằng sản phẩm nội địa của họ kỳ thực không hề thua kém hàng Nhật Bản sản xuất.

Họ đổ lỗi nguyên nhân hàng hóa Mỹ không cạnh tranh lại được hàng Nhật Bản là do thị trường chứng khoán Nhật Bản chưa đủ mở, và chính phủ Nhật Bản đã cố ý thao túng tỷ giá hối đoái.

Về cơ bản, việc đồng Yên không đáng giá bao nhiêu mới khiến hàng hóa Nhật Bản có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Vì vậy, Mỹ cho rằng, chỉ cần đồng Yên tăng giá, đồng đô la mất giá, thì hàng hóa Mỹ sẽ không còn thua kém.

Cứ như vậy, sau nhiều lần gặp gỡ bí mật, vào ngày 22 tháng 9 năm 1985, một sự kiện lớn gây chấn động toàn thế giới đã được đăng tải trên các tạp chí lớn.

Mỹ, nước vừa chỉ trích Nhật Bản thao túng tỷ giá hối đoái, đã triệu tập đại diện của Nhật Bản, Pháp, Anh và Tây Đức đến Khách sạn Plaza ở New York để ký một hiệp định.

N���i dung cốt lõi của hiệp định là: ngoài việc yêu cầu các nước cùng nhau liên thủ bán tháo đô la để làm đồng tiền này mất giá, nhằm hóa giải thâm hụt thương mại của Mỹ.

Mỹ còn đặc biệt yêu cầu Nhật Bản và Tây Đức thực hiện việc nâng giá đồng tiền của mình với biên độ khá cao, để giúp Mỹ hóa giải áp lực.

Rất rõ ràng, bản thân Mỹ cũng không ngần ngại công khai làm trái với tinh thần "thị trường tự do" mà phương Tây vẫn tôn sùng.

Mục tiêu chèn ép rõ ràng hướng vào Nhật Bản và Tây Đức, vì ai đã kiếm nhiều tiền nhất từ Mỹ chứ?

Còn đối với Nhật Bản và Tây Đức, trước hết, cả hai đều là những quốc gia bại trận trong Thế chiến thứ hai, có địa vị quốc tế đầy lúng túng.

Thứ hai, Mỹ là khách hàng lớn nhất của cả hai nước này.

Họ cũng hiểu rõ, nếu người Mỹ không hài lòng, thì thật lạ nếu họ còn có thể yên ổn làm ăn.

Đặc biệt là Nhật Bản, dù bóng đen của bom nguyên tử và nền giáo dục hòa bình đã in sâu vào lòng người Nhật, nhưng đồng thời cũng đã thấm nhuần vào họ một ám thị tâm lý r��ng họ mãi mãi ở dưới người Mỹ một bậc.

Thế là, bị buộc phải chịu sự "dâm uy" và ngại sự phụ thuộc sinh tồn, Nhật Bản và Tây Đức không dám hó hé nửa lời, đàng hoàng cúi đầu ký hiệp định.

Và đây chính là ngòi nổ quan trọng dẫn đến hàng loạt vấn đề về bong bóng rồi suy thoái của Nhật Bản sau này.

Nhắc đến đây, đây là lần đầu tiên trong lịch sử, nhiều quốc gia cùng ngồi lại với nhau, ngang nhiên muốn vận dụng sức mạnh quốc gia để can thiệp vào "thị trường tỷ giá hối đoái".

Một khi tin tức được công bố rộng rãi, đợi đến khi màn thao túng tỷ giá hối đoái liên hợp của các quốc gia chính thức bắt đầu diễn ra, tác động và sự rung chuyển mà nó tạo ra đối với thị trường chứng khoán quốc tế đơn giản giống như một cơn sóng thần.

Dĩ nhiên, do khác biệt múi giờ và việc Nhật Bản tình cờ trùng vào kỳ nghỉ thu phân, thời gian các thị trường quốc gia tiến hành can thiệp cũng không giống nhau.

Ngày 23 tháng 9, Bộ trưởng Tài chính Tây Đức là người đầu tiên ra lệnh cho các ngân hàng liên bang Đức tại Frankfurt tiến hành can thiệp vào thị trường tỷ giá hối đoái.

Sau đó, thị trường Paris và London cũng mở cửa, dưới mệnh lệnh của các bộ trưởng tài chính quốc gia, liên thủ can thiệp vào tỷ giá hối đoái.

Dưới sự can thiệp mạnh mẽ của các ngân hàng trung ương, các đồng tiền chủ chốt của các quốc gia liên tiếp tăng giá so với đô la.

Đặc biệt, tỷ giá hối đoái của đồng Yên và Mark so với đô la còn tăng mạnh hơn, như những chú ngựa trắng dẫn đầu đoàn đua, tăng 5% chỉ trong một ngày.

Đến buổi chiều, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ mới thật sự tham gia cuộc chiến, đầu tư 250 triệu đô la, tiếp tục đẩy tỷ giá đồng Yên lên cao.

Từ 1 đô la đổi 235 Yên, nâng lên thành 1 đô la chỉ đổi được 225 Yên.

Đến lúc này, thị trường mới thực sự phản ứng kịp thời.

Đô la sẽ sụt giá!

Đô la thật sự sẽ sụt giá!

Năm nước can thiệp hiệu quả, tất cả đều đang cầm vàng ròng bạc trắng đổ vào thị trường để chuyển đổi!

Thế là, một lượng lớn các nhà đầu tư tổ chức, các thương gia giao dịch bắt đầu điên cuồng bán tháo đô la, lặng lẽ rút khỏi tài sản đô la.

Đợi đến ngày hôm sau, hiệu ứng này cuối cùng cũng lan đến Nhật Bản, và còn được phóng đại lên gấp bội.

Không chỉ đẩy nhanh hơn việc đồng Yên tăng giá, mà đầu tư nước ngoài còn điên cuồng đổ vào thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu công của Nhật Bản, tranh giành tài sản Yên.

Ngày 24 tháng 9, khi chính phủ Nhật Bản kết thúc kỳ nghỉ thu phân, đúng hẹn bắt đầu bán tháo đô la, tiếp tục hỗ trợ đồng Yên tăng giá, đồng thời cũng bỏ xa đồng Mark.

Thị trường chứng khoán Nhật Bản, vốn đã nằm trong xu hướng tăng trưởng, vừa mở cửa đã chứng kiến sự tăng vọt như suối phun, ứng nghiệm ngay lập tức.

Hơn nữa, ảnh hưởng lớn nhất tập trung phản ánh ở ngành tài chính và bất động sản.

Trong ngành tài chính, các công ty chứng khoán có mức tăng cao nhất, tiếp theo là ngành bảo hiểm, và cuối cùng là ngành ngân hàng.

Toàn bộ khối tài chính có mức tăng trung bình lên tới 11%.

Ngành bất động sản thể hiện còn vượt trội hơn, toàn bộ khối này trong ngày đó có mức tăng trung bình không ngờ tới 15%, trở thành "viên ngọc sáng chói" nhất trên toàn thị trường.

Công ty xây dựng nhà ở lớn nhất Nhật Bản Daiwa Goshi Kaisha (Ltd) đã tăng 5% trong một ngày.

Công ty bất động sản lớn nhất Mitsubishi tăng 6%.

Công ty môi giới nhà ở lớn nhất Mitsui Real Estate tăng 3%.

Điều này khiến Ninh Vệ Dân, người mới mở tài khoản tại Nomura tuần trước và đã nhờ người đại diện chứng khoán của mình hoàn tất việc xây dựng toàn bộ kho cổ phiếu, lớn tiếng kêu may mắn.

Bởi vì chàng trai này không chỉ kịp thời hoàn thành bố cục vào phút chót, mà phương pháp lướt sóng cổ phiếu của anh ta cũng dựa theo kinh nghiệm từ cổ phiếu A (Trung Quốc).

Đặt cược vào chứng khoán bất động sản thì không cần do dự, nhưng Ninh Vệ Dân còn biết rằng, "cái đĩa" (thị trường/cổ phiếu) càng nhỏ thì càng dễ dàng tăng giá, cổ phiếu giá càng thấp càng dễ thu hút nhà đầu tư nhỏ lẻ theo đuổi.

Hơn nữa, vì chưa quen thuộc với cổ phiếu Nhật Bản, Ninh Vệ Dân đã chọn phương thức đầu tư phân tán, không đặt tất cả trứng vào một giỏ.

Anh ta đã mua cổ phiếu của ba công ty chứng khoán vừa và nhỏ, và bảy công ty bất động sản vừa và nhỏ.

Kết quả là anh ta phát hiện phương thức này quả nhiên cũng áp dụng được ở Nhật Bản, hơn nữa còn có một phúc lợi đặc biệt "đánh bậy đánh bạ".

Đó là bởi vì sau này anh ta phát hiện, sàn giao dịch cổ phiếu Nhật Bản có cơ chế tăng giá trần rất đặc thù.

Không giống như mức trần 10% (hay 11%) của nước Cộng hòa (Trung Quốc), mà là thiết lập các giới hạn biên độ dừng giao dịch khác nhau tùy theo khoảng giá cổ phiếu.

Theo nguyên tắc, cổ phiếu có giá càng thấp, khối lượng càng nhỏ thì giới hạn càng ít.

Ví dụ, cổ phiếu dưới 100 Yên có biên độ dừng tăng giảm là 30 Yên.

Cổ phiếu từ 101 đến 200 Yên có biên độ dừng tăng giảm là 50 Yên...

Cứ thế mà suy ra, việc dừng giao dịch là theo từng phân đoạn.

Vì vậy, những cổ phiếu anh ta mua được không phải là cổ phiếu có vốn hóa lớn, tính linh hoạt cực kỳ cao.

Không ngoại lệ, tất cả đều là những cổ phiếu có thể thay đổi vài chục phần trăm mỗi ngày, chúng tăng giá thật sự là "sưu sưu" nhanh chóng.

Ngay trong ngày 24 tháng 9, anh ta trơ mắt nhìn cổ phiếu của mình tăng giá trung bình 18%, kiếm được số tiền lớn là 90 triệu Yên.

Lúc 3 giờ chiều, khi báo cáo cuối ngày, anh ta bước ra khỏi sở giao dịch chứng khoán Nomura, vui vẻ đến mức "sướng ra tận mây xanh".

Mình đúng là người có vận may lớn!

Nhưng ai có thể bắt kịp đà này!

Một ngày mà đã kiếm được hai căn nhà ở Tokyo, kiếm 2 triệu nhân dân tệ!

Số tiền này, ngay cả ở Tokyo Nhật Bản, cũng được coi là một khoản tiền lớn!

Huống chi, nếu cứ theo tốc độ này, chỉ cần thêm một ngày nữa là anh ta có thể kiếm lại được số tiền đã bỏ ra mở nhà hàng.

Ai có thể nói đây không phải là một kỳ tích đầu tư!

Và cái khoái cảm lâu ngày không gặp này, niềm vui sướng do dopamine tiết ra này, chính là điều anh ta từng trải nghiệm ở kiếp trước vào năm 2008, khi thị trường cổ phiếu A đang trong giai đoạn bò tót với khả năng huy động vốn, giải chấp và đòn bẩy, anh ta đã mua cổ phiếu của các công ty chứng khoán.

Nhưng khi đó, trong nước cũng chỉ có biên độ tăng 10% mỗi ngày lẻ, tiền của anh ta lại có hạn, một ngày cũng chỉ kiếm được vài trăm nghìn.

Huống hồ khi đó trong lòng anh ta cũng không có gì là chắc chắn, rất hoang mang!

Cổ phiếu mua được về cơ bản không dám giữ lâu trong tay.

Chỉ sợ xảy ra sự kiện "thiên nga đen" nào đó, tình hình thị trường chứng khoán đột ngột đảo chiều, từ tăng trần biến thành giảm sàn!

Hơn nữa, cuối cùng anh ta thật sự vì thiếu máu đòn bẩy mà bị "đánh về nguyên hình".

Hơn ba triệu tiền vốn ban đầu, kiếm được bao nhiêu lại "nhả" ra bấy nhiêu, hóa ra là lãng phí thời gian, làm việc không công cho các công ty chứng khoán.

May mắn lắm mới giữ được vài trăm nghìn tiền lãi, coi như là một khoản tiền lãi rớt vào tay, rồi toàn thân rút lui trong sợ hãi sau những phen kinh hồn bạt vía.

Nhưng bây giờ thì khác, anh ta lại là người đã "nhìn trộm" được lá bài tẩy của ông trời.

Căn bản không phải là đang đánh cược, mà là đang ngang nhiên cướp tiền của người Nhật!

Anh ta biết đây chỉ mới là khởi đầu, tương lai còn có tới năm năm ngày tốt đẹp phía trước.

Dù có tính đến việc anh ta chọn cổ phiếu không cẩn thận, có thể dẫm phải "mìn" của các công ty bị hủy niêm yết, thì cũng không sao cả.

Chỉ riêng việc chỉ số Nikkei 225 vào cuối ngày hôm đó mới đạt 12077 điểm, mà cuối cùng có thể tăng lên mức mơ ước 38957 điểm.

Anh ta liền khẳng định, đa số các công ty này có giá cổ phiếu trung bình ít nhất còn có thể tăng vọt gấp mười lần!

Y như rằng là kiếm lớn!

Cho nên, ngay buổi chiều vừa rồi, gần đến lúc báo cáo cuối ngày, anh ta mới có thể không chút do dự từ chối lời đề nghị xuất hàng chốt lời của người đại diện chứng khoán.

Trời ơi, còn muốn lừa ông đây làm việc cho mấy công ty chứng khoán Nhật Bản các người sao? Đẹp mặt lắm!

Ông đây có thể kiếm một triệu, hà cớ gì phải đi kiếm một trăm nghìn?

Giờ đây anh ta tuyệt đối tin tưởng, "dài hạn là vàng, ngắn hạn là bạc".

Không giữ được bình tĩnh trên thị trường chứng khoán thì chẳng khác nào một "miếng thịt bao", chỉ có tiến chứ không lùi.

Nếu như thời gian còn có thể quay trở lại quá khứ, anh ta có lẽ sẽ suy tính một chút, bớt mua một căn nhà, dồn kho nặng vào thị trường chứng khoán.

Đáng tiếc, không có "nếu như"...

Bản dịch này là một sản phẩm độc quyền của truyen.free.

Trước Sau
Nghe truyện
Nữ
Nam

Cài đặt đọc truyện

Màu nền:
Cỡ chữ:
Giãn dòng:
Font chữ:
Ẩn header khi đọc
Vuốt chuyển chương

Danh sách chương

Truyen.Free