(Đã dịch) Phục Hưng - Chương 36: . Xây dựng.
Trên khu đất trống phía đông thành, hàng trăm hàng ngàn người đang rầm rộ xây dựng một công trình khổng lồ, lớn nhất Tân đảo lúc này – quân doanh Đại Việt. Từng hàng cọc bê tông thẳng đứng như mọc lên từ mặt đất, chĩa tua tủa lên trời cao. Dù đã chứng kiến bao lần, thổ dân và nô lệ di chuyển gạch đá, vôi vữa vẫn không khỏi tặc lưỡi thán phục. Chẳng riêng gì họ, ngay cả những người đến từ Trung Nguyên phồn hoa hay Constantinople kỳ vĩ cũng phải tấm tắc khen ngợi sự lạ lùng này.
Ở thế kỷ 20, 21, khi bê tông cốt thép đã quá đỗi quen thuộc, việc nhìn thấy những cây cột bê tông như thế này là điều bình thường, thậm chí đôi khi còn gây khó chịu, nhìn cây xanh còn vui mắt hơn nhiều. Thế nhưng ở thế kỷ 14 thì hoàn toàn khác. Cả thế giới lúc bấy giờ vẫn xây dựng bằng gỗ và đá, gắn kết bằng những vật liệu đặc biệt, đắt đỏ, hoặc bằng sự sắp xếp tài tình của người thợ. Bởi vậy, những cây cọc cao hàng chục mét như chui từ lòng đất lên kia quả là điều vô cùng kỳ lạ, đặc biệt là ở một nơi hoang vu như Tân đảo này. Lũ nô lệ từ khắp nơi, kiến thức rộng hơn, từng thấy không ít thành cao, hào sâu, tháp miếu đền chùa, nhưng cũng không kìm được sự kinh ngạc. Mấy cây cọc này không phải gỗ hay đá đẽo từ núi ra, chúng được tạo thành từ một hỗn hợp kỳ lạ gồm cát, đá, vôi vữa và sắt thép, thần kỳ hệt như phép thuật. Đã vậy, chúng còn cứng rắn như đá, thẳng tắp mà chẳng cần đẽo gọt gì.
Một kiến trúc sư đại tài như Nguyễn Bình cũng không khỏi thán phục tướng quân Đại Hải vì đã phát minh ra thứ vôi vữa thần kỳ, lại còn có cách xây dựng nhanh chóng mà kiên cố không kém, không khác gì phép tiên. Chỉ cần đủ nhân công và nguyên liệu, bất kỳ công trình to lớn nào cũng có thể xây dựng được, đặc biệt là lại nhanh chóng và tiết kiệm sức người, sức của. Thực ra, Nguyễn Bình đã đánh giá Đại Hải hơi cao. Khi đã có xi măng, bê tông cốt thép chỉ là chuyện nhỏ. Hơn nữa, từ khi đến đây, trí nhớ của Đại Hải tốt lạ thường, những gì đã xem đã đọc trước đây như được khắc sâu vào đầu, không thể nào quên. Việc sử dụng bê tông cốt thép lại quá phổ biến, ai từng xây nhà đều biết rõ.
Tuy nhiên, việc để Nguyễn Bình dốc sức xây dựng cũng làm Đại Hải đau lòng như cắt. Vôi vữa (xi măng) thì dễ kiếm, nguyên liệu có sẵn. Nhưng cốt thép lại là một vấn đề nan giải. Đây là Thuận Hóa chứ đâu phải Thái Nguyên mà muốn có sắt là có sắt. Chưa kể, việc khai thác đã khó khăn, luyện ra thép lại càng khó hơn, hoàn toàn thủ công, chất lượng không cao. Gom góp mấy tháng trời chỉ đủ xây cái nhà chính của quân doanh, còn các khu khác thì không thể. Luyện thép thủ công thì chẳng biết đến bao giờ mới đủ cho xây dựng, thợ rèn có đập mấy đời cũng không đủ thép làm một cái bến cảng chứ.
Về lò luyện thép, Đại Hải cũng biết, nhưng chỉ biết đại khái. Không ph���i khi còn ở thời hiện đại hắn rảnh rỗi đến mức đi tìm hiểu lò luyện thép hoạt động thế nào, mà là do đọc truyện xuyên không của các tác giả Việt hay Tàu thường nhắc đến. Xi măng, thủy tinh, giấy, xà phòng, rượu mạnh, đường mía... toàn là bảo bối của người xuyên việt, cứ đến cổ đại là phải chế ra, cách làm cũng không quá khó, không động chạm gì đến kỹ thuật cao siêu. Lò luyện thép thì kỹ thuật cao hơn một chút, nhưng mấy tác giả kia chỉ miêu tả qua loa, thành ra hắn cũng chỉ biết qua loa. Muốn làm ra còn cần thời gian dài nghiên cứu, thực nghiệm và đặc biệt là cần rất nhiều nguyên liệu nữa. Trước mắt, hắn không có nhiều quặng sắt như thế để mà lãng phí... Còn than cốc, than cốc mới là mấu chốt của luyện sắt. Hắn cũng chỉ biết sơ sơ, đang cho người thí nghiệm... Thành ra, muốn luyện được nhiều sắt thép thì cứ phải chiếm trọn Tân đảo rồi tính sau.
“Anh Bình, mất bao lâu nữa thì xây xong quân doanh? Còn cần thêm người và vôi vữa nữa không?” Vũ Tiến đứng bên cạnh hỏi.
“Người thì đủ rồi, nhưng sai khiến mấy tên thổ dân với nô lệ này làm việc thực sự tốn sức quá. Cơ bản là bất đồng ngôn ngữ, khó làm. Người Việt ta vẫn là tốt nhất, nhưng thôi ở xứ này dùng tạm vẫn được.”
“Anh cần thêm người không? Hôm qua Văn Võ mang về gần 2000 người, tráng niên cũng đến một nửa. Anh cần thì tôi điều qua cho.”
“Không, chỗ này tôi đủ người rồi. Anh đưa họ đi đốn cây, khai mỏ đi. Nhiều người thế mà không làm gì, nuôi cũng tốn kém.”
“Ừ, tôi cũng tính thế. Mấy hôm trước tìm được thêm một mỏ đồng. Không biết có nên đưa người qua đào không.”
“Cứ đưa đi chứ, bây giờ chưa cần nhưng sau này ắt sẽ cần. Tiện có nhân lực, cứ lấy mà dùng anh ạ. Nhưng anh chớ quên việc chặt cây, xây thành làm ruộng, mọi thứ đều nhờ vào đó cả đấy.”
“Anh thấy khu nhà cửa gần sông kia thế nào, ta dỡ ra xây mới được không?” Vũ Tiến vừa nói vừa chỉ khu nhà lụp xụp của dân bản xứ đằng xa.
“Khu đấy phải dỡ bỏ nhưng không thể xây nhà ở đó được. Khu đó dễ ngập úng, không hiểu sao mấy người thổ dân lại chọn xây nhà ở đấy. Chỗ đ�� chỉ hợp xây cảng thôi, thuyền bè dễ ra vào.”
“Ấy dào, chắc do gần sông, dễ lấy nước, lại lười đi xa nên xây luôn ở đó. Theo anh thì xây thành ở khu nào là hợp lý?”
“Cách đây chục dặm có khu đất cao, lại khá gần núi và các mỏ sắt, rất tiện. Chỗ đó rừng cũng thưa bớt. Nếu được, anh cho người đi phát quang giúp, xong quân doanh tôi sẽ chuyển qua đó xây nhà luôn. Nhưng muốn xây lớn thì vôi vữa sẽ không đủ.”
“Anh không cần lo, mấy hôm nữa tôi cho thuyền về Thuận Hóa, xin thêm người cùng lương thảo, dụng cụ các thứ. Vôi vữa ắt không thiếu được.”
“Thế thì tốt quá rồi. Có vôi vữa, lại sẵn gạch, anh muốn xây kiểu gì cũng được.”
“Nào dám, có xây cũng phải theo ý tướng quân chứ.”
“Hahaha, đùa chút thôi. Bản vẽ tướng quân đưa cho anh cũng xem rồi đấy, lạ lùng thật. Trông như ngôi sao nhưng lại không phải ngôi sao. Nhưng chắc chắn phòng thủ rất tốt, ấy vậy mà trước đây người ta không nghĩ tới. Cách sắp xếp hợp lý, cống rãnh rõ ràng. Không biết xây xong sẽ trông như thế nào nhỉ? Quả là mong chờ.”
“Tôi cũng vậy. Thôi anh chỉ huy tiếp đi. Tôi về thuyền, hôm qua Văn Võ mới về, để xem tình hình thu hoạch thế nào, và còn phải tổ chức thuyền về đất liền nữa.”
“Vâng, anh cứ đi đi.”
Nguyễn Bình chắp tay chào, rồi quay sang tiếp tục giám sát việc xây dựng. Vũ Tiến đáp lễ rồi dẫn lính rời đi về phía thuyền đậu, lúc này chắc Văn Võ cũng đã tỉnh rồi.
Trong buồng riêng của Phạm Văn Võ trên thuyền, hắn lúc này đã tỉnh giấc và ăn xong bữa sáng. Chỉ mấy ngày hành tẩu trong rừng thiêng nước độc, một võ tướng như hắn cũng không kham nổi. Đúng lúc này lính hầu vào báo Vũ Tiến đến.
“Văn Võ, đã khỏe hơn chưa?” Giọng Vũ Tiến sang sảng từ ngoài cửa vọng vào.
“Anh Tiến, cũng khỏe rồi. Ngủ một giấc đẫy, ăn bữa cơm nóng là khỏe ngay ấy mà. Ngày trước đánh vua Mèo trên núi, khổ hơn mà vẫn sống nhăn đấy thôi.”
“Ngày đấy khác giờ khác chứ. Ít ra ngày đấy đi đánh giặc còn biết đường ngang ngõ dọc. Sang đây chả biết đâu mà lần, toàn phải mò mẫm. Mệt thân hơn nhiều.”
“Anh nói phải, đánh giặc thì không sợ. Chỉ sợ lạ nước lạ cái, quân Việt ta ăn thiệt trên đất này đều do chưa quen mà thành.”
“Đúng, thế nên không gì phải lo lắng cả. Ai cũng hiểu, chủ công chắc chắn cũng hiểu. Mấy hôm nay anh đi được xa không, gặp những gì, thu hoạch thế nào?”
Phạm Văn Võ vừa pha trà vừa bắt đầu kể lại mấy ngày vừa qua, từ lúc xuất phát đến khi gặp bộ lạc giỏi dùng độc. Chỉ vỏn vẹn một tuần lễ mà đầy rẫy khó khăn, khúc mắc, bao thứ ly kỳ cổ quái trong chốn hoang vu này: rừng sâu, thú dữ, thổ dân, rồi mỏ vàng, mỏ bạc. Bộ lạc giỏi dùng độc kia ở ngay dưới chân núi. Mỏ vàng, mỏ bạc có hay không thì chưa rõ, nhưng chắc chắn có mỏ sắt và than đá, đúng thứ chủ công cần nhất. Xung quanh cũng gọi là cảnh đẹp ý vui, mỗi tội lắm độc trùng.
“Cái chốn Tân đảo khỉ ho cò gáy này, cái gì cũng không có, chỉ có mỏ là nhiều.” Vũ Tiến cảm khái.
“Anh nói phải, gì đâu, ta đến chưa đầy tháng mà đã phát hiện mấy cái mỏ sắt, mỏ than đá lớn lộ thiên. Lại còn những đồn đoán về mỏ vàng, mỏ bạc. Đấy là chưa kể đến đồng, chì các loại.”
“X��� này giàu khoáng hơn cả miền Thái, Lạng (Thái Nguyên, Lạng Sơn). Vậy mà dân bản xứ lại không biết luyện, đúng là phí của trời.”
“Hahaha, không biết mới là tốt, thế ta mới dễ bề chiếm lĩnh. Chứ họ mà biết thì ta đánh đến bao giờ mới xong. Thổ dân ở đây cũng không ít.”
“Ừm, lần này anh bắt được 2315 người.”
“Đấy là còn gần 200 tên bị giết khi phản kháng rồi đấy. Bộ lạc này coi như là một bộ lạc lớn, trai tráng không ít.”
“Không biết vào càng sâu trong đất liền, có càng nhiều người và mỏ hơn không.”
“Tôi đoán là nhiều, chẳng phải chủ công đã nói xứ này ít nhất cũng phải có mấy chục vạn người sao? Nhưng họ lạc hậu, ta dễ bề cai quản.”
“Ừm, nhưng người của ta quá ít. Mấy tuần thôi mà chết mất 68 người, ta cần thêm chi viện.”
“Tôi cũng đang có ý này. Giờ Tân đảo đã tạm ổn, tôi tính để lại 500 người phòng thủ, còn lại mang thuyền về Thuận Hóa một chuyến, vừa báo cáo chủ công, vừa lấy thêm lương thực, thêm người.” Vũ Tiến nói.
“Lần này anh đi hay tôi đi?” Phạm Văn Võ hỏi.
“Để tôi đi cho. Anh bên này quen thuộc hơn tôi một chút, dễ bề quản lý. Tôi về Thuận Hóa, anh ở bên này đừng đi lùng sục nhiều. Quân ít, đi thế nguy hiểm lắm, nhỡ có chuyện gì không có mặt mũi nào nói với chủ công.”
“Anh nói phải, dạo này ta bắt được hơn vạn thổ dân rồi, tạm đủ dùng. Nhiều hơn cũng không quản được, lương ăn cũng không đủ. Tôi tính mang người đi chặt rừng và dẹp bớt thú dữ quanh đây, để khi dân ta qua đỡ nguy hiểm.”
“Phải vậy. Anh cứ khai thông đường đến mấy mỏ sắt và bãi than lớn đi. Chắc lần tới tôi sang mang theo nhiều nhân lực, thợ thuyền, ta có thể dựng mỏ xây xưởng, tự sản xuất công cụ, không cần lúc nào cũng chuyển từ Thuận Hóa qua. Bên đó cũng không nhiều sắt gì cho cam.”
“Được, tôi sẽ cố gắng. À, anh nói chủ công tìm nhiều thợ mỏ, đặc biệt mấy người biết tìm mỏ ấy. Hạng võ biền như ta, mấy mỏ lộ thiên còn dễ nói, chứ mỏ sâu thì không biết đâu mà lần, có khi bỏ lỡ nhiều mỏ quý.”
“Ừm, tôi về sẽ báo lại chủ công.”
Vũ Tiến cùng Văn Võ tiếp tục bàn bạc việc phòng thủ cùng xây dựng Tân đảo một cách cặn kẽ, tránh lúc rút bớt quân đi lại phát sinh chuyện.
Đoạn văn này được biên tập cẩn thận bởi truyen.free, với mong muốn đem đến trải nghiệm đọc mượt mà nhất.