(Đã dịch) Phục Hưng - Chương 93: . Tô Hàng
“Trên có thiên đàng, dưới có Tô Hàng” là câu nói phần nào khái quát vẻ đẹp và sự trù phú của Tô Châu, Hàng Châu. Nơi đây nổi tiếng với cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, đất đai màu mỡ, từ xa xưa đã là vùng đất phát triển mạnh, dân cư đông đúc, giàu có và là địa điểm định cư ưa thích của các thế tộc, thương nhân. Nằm bên bờ Trường Giang, ngay sát kinh đô Nam Kinh luôn có trọng binh đóng giữ, Tô Hàng trước nay đều ít phải trải qua chiến loạn. Đây là đất làm giàu chứ không phải nơi lánh nạn binh đao; các ngành nghề thủ công nghiệp rất phát triển, đặc biệt là lụa, lụa là, gấm vóc Tô Châu nổi tiếng về chất lượng.
Hàng Châu lại là một trong những thương cảng trọng yếu của Đại Minh, bởi vậy sự giàu có nơi đây càng không cần bàn cãi. Mọi sự giàu có và tươi đẹp của Giang Nam dường như đều hội tụ về Tô Hàng. Biết bao phường trộm cướp, quân xâm lược đều nhăm nhe vùng đất này. Ngay cả Oa khấu, dù ở tận ngoài biển Bắc, mỗi đêm mơ ngủ cũng không ngừng nghĩ đến. Khốn thay, vào lúc này thủy sư Đại Minh lại không phải hạng vừa. Dù Chu Nguyên Chương đã ra lệnh cấm hải nhưng cũng không thể ngăn cản sự phát triển của thủy sư, huống hồ Chu Đệ lại là người sẵn sàng đóng hàng ngàn thuyền chiến lớn cho Trịnh Hòa thám hiểm. Thủy sư Đại Minh dưới thời Chu Nguyên Chương và Chu Đệ mạnh đến mức không hải tặc nào dám mon men đến gần. Ngay cả Oa khấu cũng chỉ có thể cướp bóc thương thuyền Cao Ly.
Thương cảng Hàng Châu nhộn nhịp luôn có hơn trăm thuyền chiến lớn đóng giữ, không một thế lực nào dám cả gan làm loạn, ít nhất là cho đến năm 1407 này.
Sau khi diệt gọn đoàn thám hiểm của Trịnh Hòa, hai hạm đội lớn của Vạn Xuân cập cảng Vân Đồn bảo dưỡng, bổ sung vật tư sau đó hộ tống đại quân ngược lên phương Bắc. Thực sự, đi biển vào cuối năm như thế này rất là điều kiêng kỵ, vì đây đang là mùa mưa bão lớn ở Biển Đông, kéo dài từ tháng 5 đến tháng 12. Nếu không cẩn thận, tổn thất sẽ khó lường.
May thay, đã gần đến cuối năm, bão chuyển hướng, tập trung nhiều về Trung Bộ và Nam Bộ, Bắc Bộ ít chịu ảnh hưởng hơn. Nếu đi biển lên phía Bắc vào các tháng 6 – 8 mới thực sự là nguy hiểm nhất, bởi khi đó Bắc Bộ thường có bão, mà lại toàn những cơn bão lớn. Vạn Xuân nếu cố ý đi vào thời điểm đó thì chỉ cần một cơn bão thôi cũng đủ để xóa sổ bao công sức xây dựng trong cả chục năm. Sức mạnh của thiên nhiên quả thật vô cùng ghê gớm, con người vẫn chưa thể chế ngự được.
…..
Truyện Kiều của Nguyễn Du từng nhắc đến một con sông nổi tiếng ở Trung Hoa, nơi Thúy Kiều định gieo mình sau khi khuyên Từ Hải ra hàng và rồi nhận lấy kết cục thảm thương, thân tàn ngọc nát, bị làm nhục rồi vứt bỏ. Đó chính là sông Tiền Đường. Sông Tiền Đường là con sông lớn nhất Chiết Giang, chảy qua Hàng Châu. Đây cũng là nơi khởi nguồn của nước Việt, ý là nước Việt của Việt Vương Câu Tiễn chứ không phải Việt Nam ngày nay. Sông Tiền Đường – Hàng Châu cũng là điểm cực nam của Đại vận hà nổi tiếng, công trình thủy lợi vĩ đại nhất của Trung Hoa thời phong kiến. Từ sông Tiền Đường, theo Đại Vận Hà có thể ngược lên đến tận Bắc Bình, với vô số đường nhánh chằng chịt, trải rộng khắp đất Trung Nguyên. Là huyết mạch giao thông không thể thiếu, nó được tất cả các triều đại hết sức coi trọng.
Sông Tiền Đường quanh co hiểm trở, sóng to gió lớn, đặc biệt là ở cửa sông, có những nơi sóng cao vượt cả nhà lầu. Đây vốn không phải nơi thích hợp để đi lại hay chiến đấu, ấy vậy mà hôm nay, một đội tàu lớn xuất hiện trên biển, thẳng hướng Tiền Đư���ng mà tiến, bất chấp những con sóng hung tợn. Đội tàu cực kỳ lớn, ước chừng lên đến cả nghìn chiếc. Tàu đi san sát, phủ kín mặt sông, khiến ngư dân xung quanh nhìn vào mà khiếp sợ.
“Ông ơi, thuyền này của ai vậy? Sao trông lạ quá.” Một thanh niên nước da đen bóng, chai sạn bởi nắng gió hỏi người đàn ông đang chèo thuyền.
“Lẽ nào là đoàn thuyền của Trịnh Hòa đại nhân trở lại?” Người ngư dân được gọi là "đại thúc" vuốt râu trầm tư.
“Nhưng thuyền này lạ quá, không giống các thuyền lớn thường thấy ở bến cảng chút nào.” Thanh niên đó nói.
“Đúng vậy, đúng vậy. Lạ thật, thế chúng có thể là ai được cơ chứ?” Người đàn ông trung niên trầm tư.
Mặc kệ hai ngư dân bàn tán, đoàn thuyền theo gió từ từ tiến đến, càng lúc càng gần. Chỉ khoảng chục cây số nữa là có thể đến cảng Hàng Châu.
“Thuyền lạ, cờ cũng lạ. Chắc chắn không phải của Đại Minh ta. Nhanh nhanh chèo thuyền về cảng báo cho quan phủ!” Người ngư dân trung niên cảm thấy không ổn, thúc giục đứa làm thuê.
Xung quanh vùng, các ngư thuyền khác cũng nh��n thấy không ổn. Một số ra sức chèo về cảng, số khác thì cập bờ rồi nhanh chân chạy đến thôn trang gần nhất báo tin. Từ đó, tin tức sẽ được khẩn cấp truyền về thành Hàng Châu bằng ngựa nhanh.
Dù đám ngư dân có nhanh nhẹn đến đâu cũng không thể đuổi kịp tốc độ của hạm đội Vạn Xuân. Chẳng mấy chốc, chiến thuyền Vạn Xuân đã đến trước cảng Hàng Châu.
Từ trên tháp canh cao cả chục mét, lính canh đã sớm nhìn thấy đám thuyền lạ. Bọn lính canh kinh ngạc trước quy mô đội thuyền. Khi xưa Trịnh Hòa đại đô đốc đi qua cũng không có nhiều thuyền như vậy. Thuyền tới tuy không to nhưng lại cực kỳ đông đảo, kín cả mặt sông. Kẻ tới chắc chắn không có thiện ý, nếu không đã sớm phái thuyền nhỏ đến trình diện.
Tiếng chuông đồng "choeng choeng choeng" vang lên dồn dập khi lính canh điên cuồng đánh vào chiếc chuông trên tháp, báo hiệu cho người phía dưới.
Dưới chân tháp, một tên lính vội vàng nhảy lên ngựa, phi thẳng về thành Hàng Châu. Một tên khác thúc ngựa chạy về phía ngọn núi ở xa, không biết để làm gì.
Cả cảng trở nên h��n loạn, nhốn nháo. Thương nhân nhìn nhau không biết phải làm sao, phu khuân vác cũng ngơ ngác không hiểu chuyện gì.
“Nhìn kìa, có người đốt lửa báo động!” Một tên thương nhân thất kinh chỉ về phía tháp canh. Nơi đó, một ngọn lửa dữ dội bùng lên, cột khói bốc cao hàng chục mét.
“Nhanh! Nhanh lên! Thu thập hàng hóa, rút về thành!” Thương nhân quát tháo, khiến dân phu oằn mình khiêng hàng chất lên xe. Cả cảng trở nên náo loạn. Không ít kẻ vơ vội đồ đạc cá nhân quý giá mà chạy, cũng có nhiều tên gian manh nhân cơ hội cướp bóc đồ đạc, tiền bạc từ đám thương nhân giàu sụ.
Từ doanh trại, quan binh ùa ra như kiến, nhiều tên còn không kịp mặc áo giáp, chỉ cầm vội binh khí. Vẻ mặt chúng bàng hoàng, không ai biết chuyện gì đang xảy ra. Các chiến thuyền trực chiến đang đậu ở cảng nhanh chóng khởi động, thẳng hướng hạm đội địch mà tiến. Những thuyền khác, binh lính và thủy thủ đoàn cũng cấp tốc chạy lên thuyền chuẩn bị xuất phát.
Phản ứng của quân Minh quả thật không chậm. Chỉ chưa đầy 5 phút kể từ khi hạm đội Vạn Xuân lọt vào tầm nhìn, đã có hàng chục chiến thuyền xuất bến, sẵn sàng ứng chiến. Thủy sư Đại Minh tinh nhuệ thiện chiến quả không phải là lời đồn. Dù bị bất ngờ, phản ứng nhanh chóng của họ cũng khiến quân Vạn Xuân đôi phần nể phục.
Nể phục thì nể phục nhưng đánh thì vẫn phải đánh thôi. Quy thuyền đi trước trận, các tay chèo ra sức kéo, thuyền lao băng băng trên sóng, mạnh mẽ không khác gì những chiến thuyền huyền thoại từng đối đầu với quân Nguyên Mông thời xưa. Những chiếc “thiết giáp hạm” cứng rắn này sẽ là chủ lực trong trận chiến hôm nay. Cận chiến khó ai có thể đánh gục được Quy thuyền. Còn các thuyền chiến còn lại, mang hơi hướm “man of war” của Vạn Xuân, tuy lợi hại trên biển nhưng trong lòng sông chật hẹp lại hơi khó xoay sở, dễ bị các chiến thuyền khổng lồ của quân Minh quần ẩu đến chết. Tốt nhất là chúng nên ở đằng sau trợ chiến, hỗ trợ Quy thuyền tiến công thì hơn.
Thuyền Minh vừa ra khỏi cảng liền lao phăng phăng về phía hạm đội đối địch. Thuyền đi dàn trải, với ý định lập một phòng tuyến trên sông, ngăn trở hạm đội địch, chờ quân cứu viện. Ý tưởng này không tồi, ít nhất đối với thủy chiến đương thời. Tiếc thay, họ phải đối mặt với hạm đội Vạn Xuân, vốn có một phương thức tác chiến hoàn toàn mới, không còn là lối đánh giáp lá cà truyền thống nữa.
Thuyền Minh dàn trận chưa xong thì "ẦM ẦM ẦM!" Tiếng đại pháo vang lên ầm ầm như sấm dậy, khí thế long trời lở đất. Thanh thế to lớn, không sao cản nổi. Những viên cầu sắt xé gió lao đến, mang theo tiếng rít chói tai đầy chết chóc.
"ẦM ẦM ẦM!" Đạn bắn vào mặt sông vỡ tung, sóng lớn sông Tiền Đường phải oằn mình trước sức công phá của những viên đạn. Nước bay tứ phía, cột nước cao hàng mét, tạt cả vào sàn tàu. Binh lính, thủy thủ quân Minh trên thuyền kinh hãi tột độ, ai nấy mặt mũi xanh mét hãi hùng. Súng pháo của giặc sao có thể lợi hại được đến như vậy? Đại pháo không phải thứ gì mới lạ đối với quân đội Đại Minh, chúng được trang bị khá nhiều là đằng khác. Nhưng tầm bắn xa và sức mạnh lớn đến nhường này thì đây là lần đầu tiên họ trông thấy, hỏi sao không sợ hãi?
Điều đáng sợ nhất vẫn còn ở phía sau. Những viên đạn bắn vào nước chỉ là những viên bắn trượt. Những viên bắn vào thuyền mới là chết chóc nhất. Gỗ đóng tàu đâu phải hạng xoàng xĩnh, rẻ tiền, đều là gỗ tốt hàng tuyển cả. Nhưng dưới sức mạnh của kỹ thuật chế tạo mới, thứ gỗ cứng rắn của tự nhiên cũng trở nên lép vế. Chỉ thấy cầu sắt bay tới, dễ dàng hất tung thành tàu thành những mảnh vụn. Viên nào động năng kém hơn thì cũng để lại một vết lõm sâu, hoặc có khi ghim luôn vào thành tàu.
Gỗ cứng đã thế, người thì càng không chịu nổi. Có tên lính Minh xấu số dính phải một viên đạn, người bị hất bay lên không trung. Máu tươi nội tạng bắn ra tứ phía, cơ thể y rách nát, một lỗ thủng dữ tợn to bằng quả bóng ngay giữa ngực, với máu tươi, vải vụn, nội tạng vương vãi khắp xung quanh. Y chết không kịp ngáp. Cái chết ấy có lẽ là một sự giải thoát, nhưng những đồng đội của y thì hoàn toàn suy sụp trong khủng hoảng.
Chết có nhiều kiểu, nhưng chết như thế này thì quả là quá thảm khốc. Một tên thủy thủ quân Minh nhìn xuyên qua lỗ thủng trên cơ thể tên lính xấu số, rồi lại nhìn thấy một tên khác đầu nát như tương, não trắng như đậu phụ văng vãi khắp sàn. Hắn ta lập tức phát điên mà hét lớn, vứt bỏ binh khí, mặc kệ tất cả mà lao đầu xuống sông. Thà chết còn hơn phải ở lại địa ngục trần gian này. Y nhảy xuống sông, còn chưa kịp bơi thì một viên cầu sắt xé gió lao đến, biến y thành một bãi thịt vụn. Máu tươi của y theo dòng nước bắn phụt lên, tạt hết vào mặt những đồng đội còn ngơ ngác trên boong thuyền.
Khắp nơi là địa ngục trần gian, tiếng la hét, kêu rên vang lên liên hồi. Những tên yếu tim, yếu bóng vía nằm vật ra ôm đầu gào thét, nước tiểu, chất thải chảy đầy quần. Tên nào to gan hơn thì cũng nôn thốc nôn tháo. Đám lão binh có đôi phần can đảm hơn thì nấp kỹ càng, mặt mũi ngưng trọng. Chiến đao trong tay run lẩy bẩy, phần nào đã tố cáo tâm trạng mà chúng đang cố che giấu. Trận này, khó đánh.
Bản quyền tác phẩm này thuộc về truyen.free, nghiêm cấm sao chép dưới mọi hình thức.