(Đã dịch) Phục Hưng - Chương 89: . Đại quân đã đến.
Trung tuần tháng 8, Đại Hải cuối cùng cũng tiến đến Đông Kinh. Khắp vùng Thanh – Nghệ – Tĩnh hay các phủ Long Hưng, Thiên Trường đều đã hoàn toàn nằm trong tay quân Vạn Xuân, lãnh thổ phía Nam hoàn toàn giải phóng. Giặc Minh giờ chỉ còn cố thủ ở Đông Kinh mà thôi.
Chục vạn đại quân tiến về, dân chúng hai bên đường nô nức đón chào, cờ hoa rợp trời, rực rỡ. Đất Việt đã từ rất lâu rồi mới lại có một đội quân hùng mạnh như vậy, có lẽ chỉ thời đánh Mông Nguyên mới sánh bằng, chứ thời Dụ Tông cất quân đánh Chiêm cũng không được như vậy. Già, trẻ, gái trai nước mắt rưng rưng, miệng cười rạng rỡ, lòng tràn đầy tự hào. Đất Việt có đại quân hùng mạnh đến thế, giặc Minh, Vạn Tượng, Chiêm Thành làm sao còn dám xâm phạm nữa chứ? Chẳng lẽ Đại Việt không thể hùng cường trở lại sao? Vinh quang thuở xưa không thể tái hiện sao?
Dân chúng rất đơn giản, ai mang cho họ cuộc sống bình yên để họ có thể an cư lạc nghiệp thì họ theo người đó. Tấm lòng trung quân ái quốc có thể là điều xa vời với họ, nhưng tình yêu gia đình, quê hương thì ai cũng có. Không ai muốn bị ngoại tộc thống trị, chèn ép, áp bức cả, họa chăng chỉ có lũ Việt gian làm tay sai cho giặc mà thôi.
Quân Vạn Xuân đồng loạt bước tiến nhịp nhàng, ưỡn ngực thẳng lưng, khí thế ngút trời. Lúc này đây, dù là người Việt, người Tân Đảo, Minh Châu, Nữ Chân hay Mông Cổ… tất cả đều chung một niềm tự hào. Cả đoàn quân vừa hành quân vừa hát, khuôn mặt rạng rỡ nụ cười, chiến thắng đang vẫy gọi họ ở phía trước rồi.
“TIẾN VỀ THĂNG LONG Trùng trùng quân đi như sóng Lớp lớp đoàn quân tiến về Chúng ta đi, mừng vui quân thù đã đầu hàng, cờ chiến thắng tung bay khắp phố Quân trùng trùng, say trong câu hát, lưỡi gươm sáng ngời lấp lánh Chúng ta đem vinh quang sức dân tộc trở về Cả cuộc đời tươi vui từ nay Các cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về Như đài hoa đón mừng nở năm cánh đào
Chảy dòng sương sớm long lanh Chúng ta ươm lại hương sắc xưa, say đắm ngày xa Ôi phố phường Thăng Long xưa yêu dấu Những bông hoa ngày mai đón tương lai vào tay Những xuân đời tươi trẻ, vui ca hát Khi đoàn quân tiến về, đêm tan dần Như mùa xuân xuống cành, đường đón gió về Thăng Long bừng tiếng quân ca” (chỉnh sửa bài Tiến về Hà Nội của nhạc sĩ Văn Cao)
Chục vạn đại quân cùng vang tiếng hát, giải phóng Thăng Long, thống nhất đất nước. Lúc này đây khắp cõi Việt sẽ hợp thành một khối, từ Thị Nại tới Quỷ Môn Quan, từ Tân Đảo, Minh Châu cho đến thành Vạn Xuân trên thảo nguyên phương Bắc, đâu đâu cũng cắm hồng kỳ, cờ sao năm cánh ngạo nghễ tung bay giữa vòm trời.
“Khí vận nước Việt trở lại rồi.” Một ông lão lau nước mắt, mỉm cười nói.
“Đúng vậy. Thời của nước Việt ta đến rồi.” Người bạn của ông lão vuốt râu cảm thán, nhìn đoàn quân đang trùng trùng nện bước, ánh mắt không giấu nổi niềm vui m���ng.
Trai tráng hai bên nhìn binh lính Vạn Xuân hùng dũng tiến bước mà nhiệt huyết sôi trào. Làm trai ai chẳng muốn kiến công lập nghiệp, ai chẳng muốn phụng sự Tổ quốc, ai chẳng muốn được đứng trong hàng ngũ vinh quang của dân tộc. Lúc này đây lòng dân đã hoàn toàn hướng về Đại Hải, tông thất họ Trần hay tàn dư họ Hồ cũng không thể thay đổi được gì nữa. Đất Việt này sẽ có một vị vua mới, một hoàng đế mới, người sẽ dẫn dắt họ tới vinh quang, xây dựng nên một thời thịnh thế muôn đời.
Ngoài thành Đông Kinh, 10 vạn quân Vạn Xuân đã tập kết, cùng với 5 vạn quân áo đen, trận địa chỉnh tề, sẵn sàng tiến công bất cứ lúc nào. Trống trận nổi liên hồi, tiếng quân ca vang tận 9 tầng mây. Quân Minh đứng kín tường thành, thần sắc lo sợ nhìn đám nam man bên dưới.
“Báo cáo tướng quân, khắp các châu, lộ phía Bắc đều giải phóng. Nay chỉ còn khoảng 4 vạn quân Minh đóng giữ trong thành Đông Kinh.” Nguyễn Dạ, chỉ huy sư đoàn đặc công, người có nhiệm vụ xâm nhập miền Bắc và xây dựng đội quân áo đen, báo cáo.
“Tốt lắm, Đại tá Nguyễn Dạ. Nhờ công lao của đại tá cùng toàn thể binh sĩ, quân ta đã làm chủ được toàn bộ miền Đông Lộ, bao vây, kìm hãm quân Minh cố thủ trong thành Đông Kinh. Ngươi cũng rất sáng suốt khi không nóng vội cường công Đông Kinh, như vậy là tốt nhất, tránh được việc hao binh tổn tướng không cần thiết. Nay đại quân quân Minh đã bị tiêu diệt, lũ giặc trong thành chắc hẳn chưa nhận được tin nên vẫn cố thủ chờ viện binh. Hãy báo tin này cho chúng, để chúng biết điều mà hành động. Nếu ngoan cố chống cự thì cường công, khi đó sẽ không tha một tên nào.” Đại Hải nói.
“Hãy đem quân kỳ của chúng trả lại cho lính Minh ở Đông Kinh. Hỏi chúng lần cuối, muốn đầu hàng hay muốn chết?”
“RÕ!” Lính liên lạc lĩnh mệnh, tức thì thúc ngựa phi đi.
Hàng trăm kỵ binh Vạn Xuân từ trong quân trận lao ra, nhằm thẳng về phía cổng thành, một tay giữ cương, tay kia kéo lê ngọn cờ. Lính Minh trên tường lấy làm lạ, nhưng không dám tùy tiện bắn tên. Có thể đây là đoàn sứ giả đến chiêu hàng, nếu mạo muội bắn tên, không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Đến lúc đó, ai sẽ là người chịu trách nhiệm đây?
“Rầm rập!” Từng cán quân kỳ, từng cán một, bị vứt xuống trước cửa thành, ngay sát hào bảo vệ, từ trên mặt tường có thể dễ dàng nhìn thấy. Mỗi một cán quân kỳ bị ném xuống, sắc mặt của các tướng Minh trên thành lại thêm phần u ám. Hàng chục, rồi hàng trăm cán quân kỳ bị ném ra. Tiếp đến lại là mũ giáp, giáp sắt, đều là mũ của các thiên trưởng hoặc tướng quân.
“Tướng quân, giáp của Đại soái, Phó soái cùng các tướng lĩnh đều bị nam man vứt cả ở đây. Quân kỳ của các cánh quân đều có cả, không thiếu một cái nào.” Tên phó tướng bên cạnh, sắc mặt tái mét, không còn một giọt máu, lẩm bẩm nói.
“Chúng ta còn chống cự nữa không? Đại quân đã tan tành cả rồi, không còn viện binh.” Tên khác nói, sắc mặt hắn cũng chẳng khá hơn.
Lính Minh trên thành sĩ khí suy sụp thê thảm, mỗi cán cờ bị ném xuống như một nhát búa tạ giáng thẳng vào tim chúng. Ngực chúng như thắt lại, hít thở không thông. Chúng không biết tình hình ra sao nhưng nhìn đám quân kỳ cùng khôi giáp kia cũng đoán ��ược phần nào, đây đều là của đại quân nam chinh, không thể lẫn đi đâu được. Hơn hai mươi vạn đại quân còn bị tiêu diệt tan tác, chúng có thể cố thủ trong tòa cô thành này mà chờ viện binh từ Trung Nguyên sao? Lương thực thì ngày càng cạn dần, quân lương đã rất lâu rồi chưa thấy đến…
“Quân Minh trong thành nghe đây! Mộc Thạnh cùng hơn hai mươi vạn đại quân nam tiến đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Nếu biết điều, hãy mau đầu hàng, may ra còn được sống. Nếu dám chống lại, khi đại quân công thành, chó gà cũng không tha. Hãy nhớ kỹ lời ta nói! Các ngươi có nửa canh giờ để mở cửa đầu hàng. Nếu không… CHẾT!” Sứ giả Vạn Xuân dưới thành hét lớn, vừa răn đe vừa như tát vào mặt, đập vỡ ảo tưởng nhỏ nhoi còn sót lại của quân Minh, sau đó lạnh lùng xoay ngựa rời đi, bỏ mặc đám quân kỳ, chiến giáp chất đống phía dưới.
“Hàng hay đánh đây, tướng quân?” Thân binh cẩn trọng dò hỏi.
“Để ta suy nghĩ!” Tên tướng thủ thành đầu đầm đìa mồ hôi nói. Đầu hàng thì chưa chắc đã sống, nhưng dám đánh thì chắc chắn chết, bọn nam man này đâu phải nói đùa.
“Hay là bắt chúng thề, thề sẽ tha cho chúng ta về nước. Nếu chúng chịu thề, ta sẽ mở cửa đầu hàng.” Một tên khác nói.
Chà, chúng muốn giống như Vương Thông, tuy xin hàng nhưng lại muốn cùng nghĩa quân Lam Sơn lập hội thề Đông Quan để được yên ổn về nước sao? Quân Vạn Xuân đâu phải quân Lam Sơn? Không, không thể nào. Đại Hải cũng chưa chắc đã nhân nghĩa đến mức tha giặc về nước. Dù biết làm như vậy sẽ bớt được họa binh đao, rất nhiều binh lính sẽ không phải bỏ mạng. Nhưng… những đồng bào đã ngã xuống, những đứa trẻ mất cha mẹ, những cô gái đôi mươi bị lăng nhục… ai đòi lại công bằng cho họ? Nợ máu thì phải trả bằng máu. Tội chết có thể miễn, nhưng tội sống thì khó mà dung thứ. Quân Vạn Xuân sẽ không lấy mạng chúng nhưng không có nghĩa quân Minh không phải trả giá. Đâu có chuyện dễ dàng như vậy, thua trận rồi thì xin về sao? Tuyệt nhiên không có đâu!
Khi quân Minh đang bàn bạc việc cử sứ giả sang xin quân Nam lập hội thề thì phía quân Vạn Xuân, những khẩu đại pháo từ từ được vận ra trước trận địa. Hàng trăm họng pháo đen ngòm chĩa thẳng về phía thành Thăng Long – Đông Kinh.
“HỪ, đã quá nửa thời gian rồi. Cho pháo binh chuẩn bị.” Vũ Đại Hải hạ lệnh.
“RÕ!” Lính liên lạc mau chóng cưỡi ngựa chạy đi.
“PHÁO BINH CHUẨN BỊ!” Tiếng hô vang hết đợt này đến đợt khác. Các pháo thủ nhanh chóng thông nòng, nạp đạn, sẵn sàng bắn bất cứ khi nào được lệnh. Tất cả đều đăm đăm nhìn về phía thành Đông Kinh, nơi những tên lính Minh cuối cùng còn sót lại.
“Các tướng về đơn vị. Sẵn sàng tiến công khi có lệnh.” Đại Hải nói với các tướng.
“RÕ!” Các tướng lĩnh mệnh rời đi, về đơn vị của mình, chỉnh đốn binh lính, sẵn sàng xuất kích.
Đúng lúc này, cửa thành từ từ mở ra, một toán lính Minh cưỡi ngựa chạy ra, hướng về phía quân trận Vạn Xuân. Càng đến gần quân trận, mặt mũi chúng càng trắng bệch, mồ hôi lạnh ướt đẫm lưng. Quân Nam man mạnh hơn chúng nghĩ rất nhiều lần, trang bị tinh nhuệ, binh lính thiện chiến, sĩ khí ngút trời. Chỉ có các đạo quân cấm vệ nơi kinh đô Bắc Kinh mới có thể sánh bằng.
“Kính thưa quân vương đất Việt! Ngày xưa, họ Hồ bất nhân, diệt họ Trần mà tự lập làm vua. Đại Minh được lời nhờ cậy từ hậu duệ họ Trần nên mới cất quân sang đánh, chỉ mong khôi phục lại cơ nghiệp cho tông thất họ Trần. Khốn thay, tông thất họ Trần gần như đã bị diệt vong cả, nên thiên quân mới nán lại lâu, cốt mong tìm được người nối dõi để lập làm vương. Nay phương Nam đã có chủ mới, họ Trần lẫn họ Hồ đều đã không còn. Minh quân mong muốn được rút quân về nước, hai bên quay về bờ cõi cũ, nước sông không phạm nước giếng, để mối bang giao giữa hai nước vẫn mãi trường tồn. Tướng Đại Minh mong muốn được cùng quân vương đất Việt cùng lập lời thề, để Minh quân an ổn về nước, tránh bị kẻ gian, tàn dư họ Hồ gây hại.”
Sứ giả quân Minh xuống ngựa, thấp thỏm nói. Đường đường là thiên quân, thiên tướng của thiên triều, nay lại phải hạ mình cầu cạnh tên mọi rợ phương Nam. Thật nhục nhã khôn xiết! Lần này mà về được, tất sẽ dâng tấu lên Thánh thượng, xin người tập hợp đại quân san bằng đất Việt, có như vậy mới thỏa được nỗi lòng này, mới bảo toàn được thiên uy của thiên triều.
“Về nói cho tướng thủ thành, hắn chỉ còn 3 nén hương để quyết định hàng hay chết. Không cần vòng vo thề thốt. Hàng hay chết! Chỉ vậy thôi. Trở về đi.” Vũ Đại Hải vẫn ngồi nguyên trên ngựa dõng dạc nói, ánh mắt từ trên cao nhìn xuống tên sứ giả Minh đứng bên dưới, thần thái bệ vệ, uy nghiêm, không thể xâm phạm.
“Xin phép được trở về trình báo.” Tên sứ Minh nhanh chóng nói rồi xoay người bỏ chạy. Ở lại đây lâu, hắn sợ bị đám quân man giết thịt mất. Không thể trông chờ quá nhiều vào đám nam man này được.
Trong chiến tranh có luật bất thành văn rằng hai quân giao chiến không được giết sứ giả. Nhưng sứ giả phải ngoan, không làm trái ý bên đối địch, chứ không thì vẫn chết như thường. Lũ giặc phương Bắc này giết sứ giả quân Việt không ít, mà quân Việt cũng từng giết sứ Bắc rất nhiều. Điển hình là vụ sứ giả Mông Cổ buông lời xúc phạm vua Trần, bị gói bánh chưng, quẳng vào ngục cho chết đói, mãi sau quân Mông đến đánh mới cứu ra được… nhưng lúc đó cũng đã thân tàn ma dại rồi.
Truyen.free nắm giữ mọi quyền lợi đối với bản chuyển ngữ này.