(Đã dịch) Phục Hưng - Chương 46: Tân đảo dậy sóng.
Bước vào năm 1392, xã hội Đại Việt đang dần bình ổn sau cuộc chiến với Chiêm Thành thì ở Tân Đảo sóng gió mới lại nổi lên. Liên minh các vương quốc đang ráo riết tập hợp quân đội hòng tấn công, đánh đuổi quân viễn chinh của Đại Hải.
Năm trước, quân Đại Việt vượt biển đến Tân Đảo, với chỉ vài phát pháo đã đổ bộ thành công, chiếm lĩnh thủ đô Maynila của vương quốc bản địa. Tuy nhiên, quốc vương cùng với lực lượng chiến binh chủ lực đã trốn thoát; thực chất, họ đã bỏ trốn trước khi quân Đại Việt đặt chân lên bờ. Trải qua một năm xây dựng tích cực, quy mô ban đầu của một khu định cư lâu dài đã hình thành. Cùng với đó, những cuộc lùng bắt của lực lượng viễn chinh đã gây ra thiệt hại không nhỏ cho các thế lực bản địa, hàng loạt làng mạc, bộ lạc lớn bị tiêu diệt, thủ lĩnh bị giết chết.
Không những thế, hàng tháng đều có thuyền chở dân Việt từ đất liền ra, khiến số lượng người Việt ở Tân Đảo tăng lên nhanh chóng. Các quốc vương bản địa buộc phải gạt bỏ mọi mâu thuẫn để tập trung lực lượng đối phó với đoàn quân viễn chinh, bởi nếu không, chỉ trong vài năm, thậm chí còn ngắn hơn, họ sẽ bị đám người mới đến này tiêu diệt.
Cứ như vậy, đến tháng 2 năm 1392, liên quân các vương quốc và bộ lạc Tân Đảo (đảo Luzon) cùng các đảo lân cận đã hình thành. Lương thực, vũ khí được khẩn cấp tập hợp, liên quân có gần 2 vạn tráng sĩ. Có thể nói đây là những chi��n binh khỏe mạnh nhất của vùng lân cận quanh vương quốc cũ Maynila, quyết tử chiến với quân Việt, với khẩu hiệu "thắng làm vua, thua làm giặc". Trên thực tế, liên quân có thể tập hợp được đông người hơn nữa, nhưng khổ nỗi, công tác hậu cần còn yếu kém. Với trình độ văn minh bấy giờ của các vương quốc, việc tổ chức được 2 vạn quân đã là quá sức.
Cùng lúc liên quân tập hợp, chuẩn bị tấn công thì Đại Hải cũng đặt chân lên cứ điểm định cư đầu tiên của Đại Việt trên Tân Đảo, Tân Thành (chính là thành phố Malina ngày nay).
Trải qua một năm xây dựng, bộ mặt Tân Đảo đã có sự thay đổi to lớn, rõ rệt. Khu phố cũ của người bản địa đã bị dỡ bỏ từ lâu, thay vào đó là một cảng sông lớn kiên cố cùng khu buôn bán sầm uất. Thuyền bè tấp nập, ngoài các chiến thuyền, thuyền chở lương thực (những chiếc vốn được Đại Hải mua lậu của nhà Minh nay đã được cải trang lại), còn có thuyền đánh cá, thuyền buôn của thương nhân Chà Và, Lưu Cầu, người Hoa. Thi thoảng cũng có thuyền Đông Doanh cập bến. Các thương nhân tranh nhau qua đây mua muối với giá hời, bán các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, vải vóc, vật dụng sinh hoạt hằng ngày. Cướp biển thì đến để phi tang hàng hóa, bổ sung vật tư, và tận hưởng chút ít sau những ngày lênh đênh trên biển.
Cách cảng chừng chục dặm, khu rừng rậm rạp trước đây nay đã bị san bằng. Từng dãy nhà ở vuông vức, cao ráo được xây dựng. Nhà cửa ở đây rất khác so với mọi nơi thời bấy giờ: được xây bằng gạch, chát vữa rồi quét vôi, lợp mái vảy cá mang hơi hướm mái cong đình làng Đại Việt, sạch sẽ, cao ráo. Nhìn vừa hiện đại, vững chãi, lại vừa mang nét truyền thống tinh tế. Mỗi nhà có một khoảng sân nhỏ để trồng cây, trồng rau hay tùy ý sử dụng, được bao quanh bởi bức tường cao, đảm bảo không gian riêng tư. Mỗi căn nhà này tuy không rộng rãi bằng nhà của phú hộ, địa chủ hay quan lại, nhưng so với nhà tranh vách đất thì quá là tốt rồi, so với nhà chủ buôn nhỏ nơi phố thị cũng chỉ hơn chứ không kém.
Nhà được cấp phát cho di dân, binh lính có gia đình, cũng như một bộ phận nhỏ dân bản xứ chịu quy thuận, tuân thủ pháp luật. Dĩ nhiên, không có gì là miễn phí ở đây cả. Người dân vẫn phải trả tiền cho căn nhà của mình nhưng được hưởng giá cả ưu đãi và có thời gian dài để trả góp, có thể tới 30 năm nếu khó khăn. Những căn nhà sạch đẹp như vậy khiến lòng trung thành của dân chúng cùng binh lính đối với Đại Hải cao hơn bao giờ hết. Có câu "áo cơm cha m���", nay Đại Hải đã ban cho họ cơm no áo ấm, việc làm, đất đai để canh tác, lại còn có chỗ ở đẹp đẽ mà trong mơ họ cũng không dám nghĩ tới. Hỏi sao họ không trung thành được?
Đạo lý lớn thì không phải ai trong dân chúng cũng thấu hiểu, nhưng đạo đức cơ bản về đền ơn đáp nghĩa, cùng với nhận thức rõ ai là người thực sự tốt với mình, thì họ vẫn phải biết. Trừ những kẻ lòng lang dạ thú, tiểu nhân âm hiểm, còn lại, không ai là không mang ơn tướng quân Đại Hải, nguyện trung thành với hắn. Mới năm trước thôi, họ còn đang lang bạt xin ăn, ăn bữa nay lo bữa mai, không biết bao giờ sẽ chết trên đường, chứ đừng nói đến chuyện an cư lạc nghiệp. Thiên tử là ai không biết, nhưng Đại Hải chính là trời đối với họ.
Ngoài khu dân cư, Tân Thành còn có khu phố buôn bán sầm uất với những mặt tiền, cửa hiệu khang trang, đẹp đẽ. Đường xá, vỉa hè rộng lớn, cống thoát nước, cây xanh bóng mát. Quy mô không thể sánh bằng những thành phố, thị trấn hiện đại, nhưng quy hoạch thì không hề thua kém. Nhìn rất thích mắt mà lại sạch sẽ.
Một thành phố muốn sạch đẹp thì quy hoạch ngay từ ban đầu là rất cần thiết. Nếu không, cứ để dân đến xây dựng vô tội vạ thì chẳng mấy chốc cơ sở hạ tầng sẽ trở nên yếu kém, không đáp ứng đủ nhu cầu.
Dĩ nhiên rồi, một thành phố người ta chỉ quy hoạch cho mấy chục ngàn dân mà sau đó cả triệu dân kéo đến ở, nát là điều đương nhiên, không nát mới là bất thường. Các đô thị ở Việt Nam hiện đại cũng gặp phải vấn đề này: vùng ngoại thành, đô thị mới thì quy hoạch ổn thỏa, nhưng nội thành, do sự phát triển nhanh của kinh tế, bùng nổ dân số, rồi di cư, và nhiều yếu tố khác, trở nên chật chội, hạ tầng xuống cấp. Muốn quy hoạch lại, giãn dân thì rất khó, vì mức đền bù quá lớn do giá nhà đất bị đẩy lên cao trong mấy chục năm. Xây dựng tại chỗ thì sẽ ảnh hưởng đến dân sinh. Đây là bài toán khó mà cần nhiều thời gian và biện pháp mạnh tay mới có thể giải quyết được, chứ không phải dăm ba câu nói suông của các hội "dân chủ" là xong, hay đọc được vài dòng báo lá cải rồi suốt ngày đi so sánh đất nước với Tây với Tàu. Phương Tây và Trung Quốc trước đây cũng từng gặp phải vấn đề tương tự, họ cũng phải mất rất nhiều thời gian để giải quyết chứ không phải một sớm một chiều là xong. Nếu ai cũng có thể vì lợi ích chung mà gác lại lợi ích riêng để phát triển đất nước thì có lẽ bây giờ Việt Nam đã xây dựng thành công Chủ nghĩa Cộng sản rồi, trở thành nhà nước kiểu mẫu của cả thế giới.
Với ánh mắt vượt thời đại hơn 600 năm, Đại Hải dĩ nhiên nhận ra và biết mức độ cần thiết của quy hoạch đô thị. Thế nên, ngay từ những viên gạch đầu tiên, hắn đã xác định xây dựng Tân Thành thành đô thị kiểu mẫu của cuối thế kỷ 14, đầu thế kỷ 15. Do đó, các hệ thống cung cấp nước, thoát nước ngầm, nhà vệ sinh, xử lý nước bẩn, rác thải, đường xá, vỉa hè, nhà cửa xây dựng đều được quy hoạch rõ ràng và được giám sát bởi tổng kỹ sư Nguyễn Bình cùng các đồ đệ. Việc xây dựng thêm của người dân tạm thời không cần lo lắng, vì dân cư chủ yếu là di dân cùng với dân bản địa được công nhận. Nhà ở đã được cấp phát xây d���ng sẵn. Các lái buôn ngoại quốc thì tạm thời bị cấm mua đất xây nhà; vấn đề xây dựng thêm sẽ được thảo luận sau, ít nhất phải 1-2 năm tới và khi có luật cụ thể.
Hiện tại, các lái buôn nước ngoài cũng rất vui mừng khi được thuê các cửa hiệu trên phố buôn bán, dù hơi bất tiện vì không phải của mình nhưng được cái sạch sẽ, khang trang. Nói thế cho sang chứ thực chất, tính đến thời điểm hiện tại, chỉ có lác đác vài cửa hiệu được thương nhân Chà Và, Lưu Cầu hay người Hoa thuê để làm nơi buôn bán lâu dài. Còn lại một số được thương nhân thương hội Lạc Việt thuê. Ai bảo dân số của cả Tân Đảo mới chỉ gần 5 vạn, chưa kể dân bản xứ, chỉ ngang cỡ một huyện lỵ nhỏ trong đất liền mà thôi. Thị trường nhỏ, kinh tế còn chưa phát đạt, trước kia thì nơi đây là xứ hoang dã, khỉ ho cò gáy, không ai thèm ngó ngàng.
Tân Thành tạm thời như vậy, sau này di dân nhiều hơn thì sẽ phát triển hơn nữa, chứ hiện tại gần như vẫn hoạt động theo chế độ bán quân sự. Dân chúng làm việc theo sự sắp xếp của chính quyền Đại Hải, các cơ h���i hay nghề tự do chưa nhiều, tựa như thời kỳ đầu của việc khai thác thuộc địa vậy, gần như bao cấp, kinh tế vẫn chưa thực sự mở cửa.
Dân chúng làm việc trong các nông trang tập thể ngoài thành. Phân điền đến từng hộ nhưng đất đai thuộc về Đại Hải; hiện tại vẫn là của Đại Hải, sau này có thể thuộc về chính quyền, nhà nước. Dân có thể trồng trọt nhưng không thể tự tiện mua bán, tạm thời là như vậy, để thống nhất quản lý. Gieo trồng các giống cây được chỉ định như khoai lang, sắn. Lúa gạo thì phải đợi đến vụ mới cấy được, và cũng chỉ ở những nơi có thể dẫn nước đến, vì hệ thống thủy lợi ở Tân Đảo gần như bằng không, không thể gieo trồng lúa đại trà được.
Ngoài ra, dân chúng cũng có thể làm việc trong các nông trại nuôi gà, lợn, dê, bò, trồng chè, mía, bông, rau dưa, cây ăn quả, v.v... theo hình thức làm công ăn lương như công nhân nông nghiệp thời hiện đại, nhằm cung cấp nguyên vật liệu cho ngành thủ công nghiệp, xuất khẩu, cũng như phục vụ dân sinh. Hình thức sản xuất nông nghiệp như vậy là tốt, thuộc s��� hữu của chính quyền, hay đúng hơn là của Đại Hải vì chính hắn là người trực tiếp bỏ vốn từ đầu đến cuối. Tuy nhiên, nó chỉ phù hợp với thời gian đầu và khi còn khó khăn thôi. Muốn phát triển mạnh hơn thì phải phát triển nền kinh tế tư bản, có cạnh tranh, lợi ích, thế mới có thể thúc đẩy sự tích cực của dân chúng. Hoàn hảo nhất là nền kinh tế mở cửa theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa như Việt Nam hiện đại.
Kinh tế đất nước vẫn phát triển nhưng quyền quản lý, điều tiết kinh tế phải nằm trong tay chính quyền, không để các tập đoàn tư bản tài chính thao túng kinh tế. Nếu không sẽ tạo ra sự chênh lệch giàu nghèo vô cùng to lớn, phát triển cục bộ, rồi dễ dàng bị tư bản nước ngoài thâu tóm kinh tế quốc gia, như cách gia tộc Rothschild đã thâu tóm kinh tế, rồi khống chế đế quốc mặt trời không bao giờ lặn, được đề cập trong phần mở đầu của quyển "Chiến tranh tiền tệ", và hàng trăm, hàng nghìn tệ nạn khác nữa. Đây là một quá trình dài và gian nan. Đại Hải muốn làm thế nhưng sợ rằng cả đời hắn cũng khó lòng hoàn thành được, việc của hắn chỉ là đặt nền móng vững chắc cho con cháu đời sau.
Nội dung bản dịch mà bạn vừa đọc là sản phẩm độc quyền của truyen.free, xin trân trọng.