(Đã dịch) Phi Châu Sang Nghiệp Thực Lục - Chương 655: Mở rộng Sản xuất và Nâng cấp
Vì vậy, Ernst nói: "Trà là một trong ba loại đồ uống lớn của thế giới. Trong số ba loại đồ uống ấy, Đông Phi chúng ta có hai ngành công nghiệp vượt trội, bởi việc trồng trà và cà phê đều đòi hỏi những điều kiện địa lý đặc thù. Trong khi đó, các sản phẩm rượu lại vô cùng phong phú, từ các loại ngũ cốc, trái cây, thậm chí cả thực vật khác. Tóm lại, nguyên liệu để s��n xuất rượu vô cùng đa dạng, có thể nói mỗi vùng đều có một loại rượu đặc trưng."
Thực tế, rượu ở Đông Phi cũng có thể xem là một ngành công nghiệp có lợi thế, nhưng lợi thế này không quá rõ rệt khi đặt cạnh cà phê và trà.
Còn lợi thế không thể lay chuyển của cà phê Đông Phi hiện nay là điều hiển nhiên, bởi lẽ, như mọi người đều biết, cà phê Đông Phi nổi tiếng toàn cầu về chất lượng.
Về điểm này, trà lại kém hơn. Bởi chủng loại trà quá phong phú, giống trà mà Đông Phi nhập về lại là những giống cây nhỏ của Đế quốc Viễn Đông, cần được đặc biệt chăm sóc và phát triển. Đông Phi đã nhập khẩu từ Đế quốc Viễn Đông tới hơn một trăm giống trà.
Điều này liên quan đến chiến lược "học hỏi có chọn lọc" của Đông Phi trong ngành công nghiệp trà. Một nguyên nhân quan trọng khiến trà Ấn Độ đến nay không thể thay thế được trà Viễn Đông là do hương vị khó bì kịp.
Và cách giải quyết vấn đề nan giải này của Đông Phi là thực hiện trồng thử nghiệm quy mô lớn, sau đó tiến hành chọn lọc ưu việt, chọn ra những giống có hương vị và năng suất vượt trội để mở rộng canh tác đại trà.
"Phạm vi trồng cà phê hẹp hơn trà một chút, về cơ bản chỉ giới hạn trong vùng nhiệt đới. Trong khi đó, trà có thể phân bố rộng rãi ở cận nhiệt đới, thậm chí còn phát triển tốt hơn. Đây cũng là lý do quan trọng khiến Đế quốc Viễn Đông trở thành quốc gia trà số một thế giới. Một yếu tố quan trọng giúp vùng trà phía bắc của chúng ta nổi bật giữa các vùng sản xuất trà khác là nhờ địa hình cao nguyên và năng suất vượt trội. Địa hình cao nguyên không chỉ đảm bảo chất lượng trà của Đông Phi mà còn tạo điều kiện canh tác tương đối thuận lợi."
Tất nhiên, trà vẫn có những yêu cầu khá khắt khe về địa hình. Nói chung, các khu vực đồi núi, cao nguyên là phù hợp nhất. Chẳng hạn, Đông Phi là một khu vực cao nguyên, còn Đế quốc Viễn Đông có đủ loại địa hình phức tạp và phong phú. Vùng trà Assam của Ấn Độ tuy là đồng bằng rộng lớn, nhưng chất lượng lại thua kém đáng kể so với trà của Đế quốc Viễn Đông và Đông Phi.
Đây không phải là lời khoa trư��ng của Đông Phi. Trong quá khứ, Kenya đã vượt trội hơn Ấn Độ và Đế quốc Viễn Đông về xuất khẩu trà trong hơn một thập kỷ. Nguyên nhân quan trọng giúp trà Kenya vươn lên là nhờ chất lượng vượt trội và sản lượng dồi dào.
Tất nhiên, điều này cũng liên quan đến việc người Kenya không có thói quen uống trà. Phần lớn trà của họ được dùng để xuất khẩu, nhờ vậy mà chiếm được ưu thế lâu dài trên thị trường quốc tế.
Trong khi đó, ở Đế quốc Viễn Đông và Ấn Độ thời trước, thị trường trà nội địa của họ lại vô cùng phong phú. Ấn Độ trong thời kỳ thuộc địa đã hình thành một lượng lớn người tiêu dùng yêu thích trà. Dĩ nhiên, trà Ấn Độ chủ yếu được tiêu thụ dưới dạng trà sữa, và các quán trà sữa vỉa hè ở đây rất phổ biến.
Đông Phi cũng có trà sữa, chủ yếu ở các đồng cỏ phía bắc và một số khu vực chăn nuôi phát triển, có nhu cầu rất cao về trà sữa. Đặc biệt, đồng cỏ phía bắc nằm gần vùng trà phía bắc, kết hợp với sản lượng sữa bò dồi dào, đã tạo nên sự tăng trưởng mạnh mẽ trong sản lượng tr�� sữa. Đồng thời, đây cũng là khu vực tiêu thụ trà đen quan trọng của Đông Phi.
Ở vành đai công nghiệp miền Bắc, nguồn cung sữa dồi dào, nên cả trà sữa lẫn cà phê sữa đều rất được ưa chuộng. Vì vậy, vành đai công nghiệp miền Bắc đồng thời là nơi hội tụ cả sản xuất và tiêu thụ ba loại đồ uống lớn nhất thế giới.
"Ngoài vùng trà phía bắc và vùng trà phía nam, vùng Đại Hồ cũng là khu vực sản xuất trà, cà phê chất lượng cao, nhưng quy mô hiện tại vẫn chưa thể sánh bằng các vùng trà phía bắc và phía nam. Cần đặc biệt chú trọng điểm này, nhất là ở các tỉnh Tây Đại Hồ (Uganda, Burundi, Rwanda, v.v.), khi lợi nhuận từ thị trường trà vẫn rất khả quan, việc cung cấp đa dạng chủng loại trà hơn sẽ giúp trà Đông Phi mở rộng thị trường."
Cao nguyên Đông Phi, toàn bộ lãnh thổ đều được xem là vùng sản xuất trà chất lượng cao. Đây là lợi thế độc nhất vô nhị của Đông Phi. Về cơ bản, hầu hết các quốc gia Đông Phi trước đây đều sản xuất trà, ngay cả những khu vực không nằm trên cao nguyên chính của Đông Phi. Việc cao nguyên Đông Phi sản xuất trà cũng hàm ý rằng các khu vực cao nguyên khác trong vùng cũng rất thích hợp cho việc trồng trà, bởi lẽ môi trường tổng thể giữa các vùng này không quá khác biệt.
"Tất nhiên, điểm bất lợi lớn nhất của ngành công nghiệp trà Đông Phi chúng ta vẫn nằm ở khía cạnh sản xuất công nghiệp hóa, đặc biệt là cơ giới hóa. Trong lĩnh vực này, chúng ta còn kém xa Ấn Độ. Vì vậy, cần phải kiên quyết đẩy mạnh cơ giới hóa trong sản xuất trà. Ngoài việc nghiên cứu nhập khẩu máy móc chế biến trà từ Áo, chúng ta cũng cần tự mình xây dựng các doanh nghiệp sản xuất máy móc liên quan."
Mặc dù Đông Phi là một quốc gia bán công nghiệp, nhưng trong lĩnh vực chế tạo máy móc lại kém xa các nước Châu Âu. Và lĩnh vực sản xuất trà cơ giới hóa lại càng là một khoảng trống.
Bởi nguồn gốc công nghiệp và công nghệ của Đông Phi phần lớn đến từ khu vực Đức, mà khu vực Đức không sản xuất trà, nên hiển nhiên không có sự tích lũy kinh nghiệm sản xuất và công nghệ liên quan.
Và tiên tiến nhất trong lĩnh vực này là Anh. Lịch sử trồng trà của Anh t��i Ấn Độ đã sớm hơn Đông Phi hơn một thập kỷ. Hiện tại, các nhà máy trà ở Ấn Độ đã có những nhà máy cơ khí quy mô lớn với hàng trăm công nhân.
Trong khi đó, Đế quốc Viễn Đông – quốc gia sản xuất trà số một thế giới – và Đông Phi – quốc gia sản xuất trà số ba – vẫn đang dựa vào phương thức sản xuất truyền thống.
Tình hình của Đông Phi khá hơn một chút, đã ủy thác cho một nhà máy ở Áo thiết kế và sản xuất máy móc chế biến trà, nhưng hiệu quả thì hiển nhiên khó lòng đạt được như mong muốn.
Xét cho cùng, đây cũng là một lĩnh vực mà Áo chưa từng có kinh nghiệm. Do đó, các loại máy móc đang được sử dụng trong các nhà máy chế biến trà của Đông Phi có hiệu suất rất thấp, thậm chí không thể thay thế được sức lao động của con người, chưa kể tỷ lệ hỏng hóc cao và chi phí bảo trì lớn.
Vì vậy, Ernst tiếp tục nói: "Năng lực sản xuất trà của chúng ta vẫn còn quá yếu, và với tình trạng không đáng tin cậy của máy móc hiện có, chúng ta phải tiến hành cải tiến tương ứng. Phương thức ủy thác thiết kế và sản xuất ở nước ngoài trong những năm trước, giờ đây xem ra không còn phù hợp. Do đó, vẫn cần phải mời các đội ngũ chuyên nghiệp từ Châu Âu sang, để họ dựa trên quy trình sản xuất trà truyền thống của Đông Phi mà thiết kế riêng các loại máy móc phù hợp cho ngành sản xuất trà tại đây."
Ngoài ra, ưu điểm của phương pháp này còn n��m ở chỗ có thể giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh sau khi máy móc vận hành, và tiến hành cải tiến một cách có mục tiêu.
Nhược điểm của phương pháp này thì không cần phải bàn cãi, chính là chi phí khá cao. Nhưng vì ngành công nghiệp trà Đông Phi mỗi năm đều mang lại nguồn thu đáng kể, nên khoản chi cho kỹ thuật này là hoàn toàn chấp nhận được đối với chính phủ Đông Phi.
Về khoản thu nhập từ trà này, chính phủ Đông Phi mạnh hơn nhiều so với chính phủ Đế quốc Viễn Đông và Ấn Độ. Chính phủ Đế quốc Viễn Đông lại khá hỗn loạn trong việc quản lý thuế trà, thậm chí có thể nói là gần như không có động thái nào.
Bởi trà là một trong những sản phẩm xuất khẩu quan trọng nhất của Đế quốc Viễn Đông. Trước Chiến tranh Nha phiến, chỉ riêng trà đã là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Đế quốc Viễn Đông sang Anh. Nhờ mặt hàng này, Đế quốc Viễn Đông đã duy trì được tình trạng xuất siêu (tổng giá trị xuất khẩu vượt quá tổng giá trị nhập khẩu) với Anh.
Ngày nay, lượng trà xuất khẩu hàng năm của Đế quốc Viễn Đông đ���t khoảng 100.000 tấn, hầu như mỗi năm lượng xuất khẩu đều tăng trưởng. Thế nhưng thuế trà của chính phủ Đế quốc Viễn Đông lại không hề tăng, luôn duy trì ở mức vài trăm ngàn lạng bạc mỗi năm. Mức này quá thấp, hoàn toàn không tương xứng với vị thế của một quốc gia sản xuất trà số một thế giới và cũng là nước tiêu thụ lớn. Nếu có thể quản lý rõ ràng khoản thuế trà, chính phủ họ sẽ giải quyết được một phần rất lớn vấn đề tài chính, nhưng điểm này rõ ràng rất khó thực hiện trong tình hình hiện tại.
Còn Ấn Độ, chỉ thuần túy là một thuộc địa. Dù trồng nhiều trà đến đâu, người hưởng lợi chính vẫn là người Anh, và không đóng góp đáng kể cho người dân bản địa Ấn Độ.
Mặc dù quy mô ngành công nghiệp trà Đông Phi còn nhỏ hơn nhiều so với Đế quốc Viễn Đông và Ấn Độ, nhưng giá trị lợi ích thu được đều thuộc về chính người dân Đông Phi. Cả chính phủ và người lao động trong ngành trà đều có thể hưởng lợi. Do đó, chính phủ vô cùng coi trọng nguồn thu từ trà.
Vì vậy, đối với việc thúc đẩy quy m�� trồng trà, mở rộng thị trường, và nâng cao hiệu suất sản xuất, chính phủ vô cùng sẵn lòng ủng hộ.
Mọi quyền sở hữu đối với đoạn văn này thuộc về truyen.free, độc giả vui lòng không sao chép khi chưa được cho phép.