(Đã dịch) Phi Châu Sang Nghiệp Thực Lục - Chương 644: Phát triển Công nghiệp Tỉnh Matabeleland
Kế hoạch "Giỏ Trái cây Âu-Á" do hai tỉnh Somalia đề ra là động lực chính giúp nền nông nghiệp Đông Phi hội nhập sâu rộng vào thị trường quốc tế. Đến năm 1882, điểm sáng nhất trong bức tranh phát triển công nghiệp Đông Phi chính là ba tỉnh nội lục: Matabeleland, Hohenzollern và Swabia.
Vào năm 1882, tổng sản lượng thép của toàn Đông Phi đạt 1,23 triệu tấn. Trong đó, riêng tỉnh Matabeleland đã đóng góp gần 400.000 tấn, nhanh chóng vươn lên sánh ngang với các thành phố ven biển phía Đông, khu công nghiệp miền Bắc và khu công nghiệp Hồ Malawi.
Vào thời điểm hiện tại, sản lượng thép hàng năm của Đông Phi đã tiệm cận mức của Đức mười năm trước khi nước này thống nhất. Tuy nhiên, sau khi Đức thống nhất và thị trường nội địa được hợp nhất (với các vùng Alsace và Lorraine mới sáp nhập trở thành khu vực sản xuất thép trọng yếu), năng lực sản xuất thép tại Đức đã bùng nổ trong một thời gian ngắn. Dù sau đó có thu hẹp lại sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1873, nhưng nhìn chung vẫn tốt hơn nhiều so với thời kỳ trước. Nguyên nhân chính là việc xây dựng đường sắt tại Đông Phi lúc bấy giờ đã hấp thụ đáng kể năng lực sản xuất dư thừa của Đức. Do đó, vào thời điểm hiện tại, sản lượng thép của Đức vẫn gấp hơn hai lần Đông Phi.
Sản lượng thép của Anh Quốc vào lúc đó là hơn 7 triệu tấn, gấp hơn sáu lần Đông Phi; của Mỹ thì gấp hơn ba lần Đông Phi. Tuy nhiên, Đông Phi lại có sản lượng gấp hơn hai lần Đế quốc Áo-Hung. Mặc dù thấp hơn Pháp, nhưng mức chênh lệch cũng không quá lớn.
Thành quả này chủ yếu nhờ vào việc khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên sắt phong phú của Đông Phi, cùng với những lợi thế có được trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế. Điều đáng nói là sản lượng thép của Sa Hoàng Nga lại thấp hơn xa Đông Phi, thậm chí còn không bằng cả Đế quốc Áo-Hung.
Việc cho rằng Sa Hoàng Nga thiếu tài nguyên khoáng sản là hoàn toàn không đúng, bởi dân số nước này gần gấp đôi Đông Phi, mà diện tích lãnh thổ cũng tương tự.
Sự khác biệt giữa Đông Phi và Sa Hoàng Nga, có lẽ nằm ở chỗ đầu tư công nghiệp của Sa Hoàng Nga chủ yếu dựa vào tư bản Âu-Mỹ, với tỷ lệ vốn nước ngoài thậm chí vượt quá 70%.
Trong khi đó, Đông Phi lại lấy tư bản Đức, mà chủ yếu là Tập đoàn Hechingen, làm nền tảng chủ đạo. Đồng thời, chính phủ Đông Phi cũng xây dựng hàng loạt doanh nghiệp nhà nước, nhờ đó kiểm soát được một lượng lớn của cải và tài nguyên của quốc gia.
Việc khai phá Đông Phi và sự lớn mạnh của Tập đoàn Hechingen có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau. Nếu không có sự hỗ trợ từ Tập đoàn Hechingen, Đông Phi đã không thể phát triển nhanh chóng đến vậy; ngược lại, nếu thiếu đi sự hậu thuẫn vững chắc từ chính quyền Đông Phi, Tập đoàn Hechingen cũng khó lòng trở thành một thế lực tài chính hàng đầu.
Hơn nữa, Đông Phi là một quốc gia nhập cư. Mặc dù giai đoạn đầu phát triển dựa hoàn toàn vào nông nghiệp khai hoang và việc tước đoạt tài sản của dân bản địa, nhưng sau đó, Ernst đã nhanh chóng bắt tay vào triển khai công nghiệp, khai khoáng và nhiều ngành nghề khác.
Chẳng hạn, trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế, Đông Phi đã tuyển dụng một lượng lớn công nhân từ Âu-Mỹ, qua đó thúc đẩy sự phát triển đô thị và công nghiệp trong nước. Cùng thời điểm đó, Sa Hoàng Nga lại chìm trong cuộc khủng hoảng nông nghiệp đi kèm với suy thoái kinh tế.
Việc sử dụng vốn nước ngoài không hẳn là không thể phát triển, nhưng giới quý tộc và quan liêu của Sa Hoàng Nga, cùng với tư bản châu Âu, lại là những yếu tố mà bản thân Sa Hoàng Nga khó lòng kiểm soát.
Với tác phong làm việc và thái độ c���a tầng lớp quý tộc cùng quan liêu Sa Hoàng Nga, cộng thêm hiệu suất kém và tình trạng giao thông lạc hậu của đất nước, ngay cả bản thân Ernst cũng không dám đầu tư quy mô lớn vào công nghiệp tại đây.
Trái lại, ngành khai khoáng và nông nghiệp lại tương đối ổn định. Điều này khiến nền công nghiệp Sa Hoàng Nga trên thực tế phụ thuộc vào hệ thống công nghiệp châu Âu, trở thành nguồn cung cấp nguyên liệu và thị trường quan trọng cho lục địa này.
Tất nhiên, điều này cũng liên quan đến sự yếu kém về mặt kỹ thuật của Sa Hoàng Nga. Đông Phi cũng đối mặt với vấn đề tương tự, và nguồn hỗ trợ kỹ thuật chính cho Đông Phi không ai khác chính là Tập đoàn Hechingen – một trong những chủ sở hữu bằng sáng chế lớn nhất ở khu vực Đức.
Đồng thời, nền công nghiệp Đông Phi tập trung chú trọng phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm, đặc biệt là ba lĩnh vực: điện lực, thép và đường sắt. Ngược lại, các ngành công nghiệp nhẹ như dệt may và lĩnh vực thương mại lại phát triển không bằng các nước như Sa Hoàng Nga.
Điều này cho phép chính phủ Đông Phi tập trung nguồn lực, giảm thiểu những hao hụt không cần thiết, bởi lẽ "tham thì thâm", muốn phát triển với tốc độ cao thì phải chấp nhận từ bỏ một số lĩnh vực mà Đông Phi chưa có thế mạnh.
Ví dụ, Đông Phi hầu như không có ngành tài chính. Thương mại chỉ giới hạn ở một vài thành phố ven biển, còn các ngành công nghiệp nhẹ như dệt may phần lớn phụ thuộc vào Đế quốc Viễn Đông và khu vực Đức. Do đó, cho đến nay, ngoài thành phố Nairobi, Đông Phi vẫn chưa hình thành được trung tâm dệt may thứ hai. Thành phố Bulawayo đang nỗ lực hướng tới mục tiêu này, nhưng vẫn cần thêm thời gian.
Ngành công nghiệp hiện tại có sức lan tỏa kinh tế lớn nhất ở Đông Phi vẫn là ngành đường sắt. Ngành đường sắt cũng gián tiếp thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp thép tại Đông Phi. Trong khi đó, ngành điện lực, dù được Đông Phi đầu tư rất lớn, nhưng ở giai đoạn đầu hoàn toàn không thể thu hồi vốn.
Trong ngành công nghiệp thép của Đông Phi, khu công nghiệp Hồ Malawi vẫn giữ vị trí dẫn đầu với sản lượng vượt 600.000 tấn. Tuy nhi��n, lịch sử khai thác tại đây sớm hơn nhiều so với tỉnh Matabeleland.
Đứng thứ ba về năng lực sản xuất thép là vành đai công nghiệp miền Bắc, tập trung ở Mombasa và Nairobi, với sản lượng khoảng 100.000 tấn. Trong đó, Mombasa vừa thuộc vành đai công nghiệp miền Bắc, vừa là một thành phố ven biển. Do vậy, tài nguyên than và sắt của vành đai công nghiệp miền Bắc, ngoài phần khai thác tại chỗ, còn được bổ sung từ Trung Đông và Ấn Độ.
Cuối cùng là các khu công nghiệp ở những thành phố ven biển trọng yếu như Dar es Salaam và New Hamburg. Ngoại trừ New Hamburg có nguồn tài nguyên than phong phú, phần lớn khoáng sản công nghiệp của các thành phố ven biển khác đều cần nhập khẩu.
Tỉnh Matabeleland sở hữu tài nguyên khoáng sản đa dạng và phong phú, đặc biệt nổi bật với vàng, kim cương, sắt, than, crôm, đồng... Trong đó, thủ phủ Harare, thành phố Bulawayo và các thị trấn như Gweru đều có mỏ vàng được khai thác.
Là tỉnh lớn nhất trong ba tỉnh miền Trung, tài nguyên đồng của Matabeleland cũng rất đáng kể. Vùng "Rhodesia" của Anh Quốc trong quá khứ vốn nổi tiếng với sản xuất đồng (bao gồm cả các tỉnh Hechingen và Nam Salzburg), vì vậy, tại thành phố Harare, Đông Phi cũng bố trí ngành công nghiệp điện lực. Hơn nữa, với sự đa dạng của các ngành công nghiệp tại đây, Harare dự kiến trong vòng năm năm tới sẽ vượt qua thành phố Mbeya, trở thành thành phố công nghiệp nặng hàng đầu Đông Phi.
“Năm 1882, toàn tỉnh Matabeleland có tổng cộng mười ba thị trấn mới được thành lập, phân bố dọc theo hai bên tuyến đường sắt xuyên trung tâm. Trong đó, Gweru và Ganda được quy hoạch thành các thành phố, còn thị trấn Lupane ở tây bắc, dù không nằm trên tuyến đường sắt, cũng nằm trong kế hoạch nâng cấp lần này.”
Công nghiệp thường dễ khiến dân cư tập trung. Trên thực tế, nhiều thị trấn nông nghiệp của Đông Phi chưa chắc đã có dân số ít hơn các thị trấn công nghiệp này, nhưng rõ ràng, các thị trấn công nghiệp có lợi thế hơn trong việc được thăng cấp.
Hầu hết các thị trấn công nghiệp này đều phát triển dựa vào hệ thống giao thông và tài nguyên khoáng sản, điều này đã biến tỉnh Matabeleland thành khu vực có tốc độ đô thị hóa nhanh nhất Đông Phi vào thời điểm hiện tại.
Lấy Gweru và Ganda làm ví dụ, chúng vừa là những thành phố nằm trên tuyến đường sắt xuyên trung tâm, đồng thời lại là các khu vực khai thác khoáng sản quan trọng. Còn thị trấn công nghiệp Kwekwe, cũng đã được thăng cấp, nếu không có gì bất thường, dự kiến năm sau cũng sẽ được nâng lên thành phố.
Kwekwe nằm ở chính giữa Harare và Bulawayo, đồng thời cũng là trung tâm của tuyến đường sắt Matabeleland, một đoạn thuộc tuyến đường sắt Trung Đông. Tuy nhiên, do thời gian khai thác muộn hơn nên hiện tại cấp bậc của Kwekwe vẫn còn kém hơn thành phố Gweru.
Riêng Lupane, dù không nằm trên tuyến đường sắt, vẫn được xem xét nâng cấp thành phố nhờ vị trí chiến lược ở khu vực tây bắc tỉnh Matabeleland, nơi còn thiếu các đô thị lớn. Thêm vào đó, Lupane còn sở hữu nguồn tài nguyên than phong phú.
“Tính đến tháng Mười năm nay, toàn tỉnh Matabeleland có tổng cộng mười một đơn vị hành chính cấp thành phố. Trong đó, có tới chín thành phố công nghiệp, và chỉ hai đơn vị còn lại thuộc diện quy hoạch hành chính thuần túy. Tỷ lệ dân số đô thị chiếm hơn 30% tổng dân số toàn tỉnh, đứng đầu toàn quốc. Thành phố Bulawayo, với tiềm năng lớn, có triển vọng sẽ lọt vào top mười thành phố lớn nhất Đông Phi trong vòng hai hoặc ba năm tới, trong khi thành phố Harare sẽ vươn lên vị trí top năm.”
Đầu tư công nghiệp của Đông Phi vào tỉnh Matabeleland lớn hơn hẳn so với các khu vực khác. Mặc dù nhiều thành phố trong số này quy mô chưa đạt tiêu chuẩn, nhưng dựa vào tiềm năng, cùng sự phân bổ dân số và tài nguyên hợp lý, trong vòng mười năm tới, năng lực công nghiệp của tỉnh Matabeleland sẽ bỏ xa các khu vực khác của Đông Phi, trở thành vùng công nghiệp trọng yếu nhất quốc gia.
Điểm thiếu sót duy nhất của tỉnh Matabeleland là thiếu cửa biển, tức là khu vực thuộc địa Mozambique của Bồ Đào Nha hiện tại. Theo tầm nhìn kinh tế của Matabeleland, cảng Beira của Mozambique trong tương lai sẽ được kết nối bằng một tuyến đường sắt thẳng tới Harare, qua đó thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ hơn nữa của tỉnh.
Bản dịch này là tài sản trí tuệ của truyen.free, mọi hành vi sao chép không được phép đều bị nghiêm cấm.