(Đã dịch) Phi Châu Sang Nghiệp Thực Lục - Chương 461: Khủng hoảng do Đức gây ra — Sói đến rồi!
Tháng 4 năm 1876.
Nước Đức vừa trải qua một đợt khủng hoảng kinh tế mới, điều này hiển nhiên gây ra sự bất mãn sâu rộng, đặc biệt là trong giới quý tộc Junker. Họ vốn muốn nhân cơ hội này trục lợi, nhưng cuối cùng lại gánh chịu tổn thất nặng nề.
Trong nghị viện đế quốc, một nghị sĩ Phổ lên tiếng: “Nguyên nhân căn bản khiến Đức rơi vào vòng khủng hoảng lần này, là vì chúng ta không có thuộc địa và dân số rộng lớn như Anh, Pháp để tiêu thụ sản phẩm nông – công nghiệp; cũng không có lãnh thổ mênh mông và tài nguyên dồi dào như Mỹ để bù đắp. Vì vậy, nước Đức với tư cách là một thế lực chính trị trọng yếu trên thế giới, nhất định phải có thuộc địa của riêng mình. Hiện nay địa vị quốc tế của Đức lại không có thuộc địa tương xứng, đây là chuyện vô lý.”
Câu nói này phản ánh đúng tâm lý của giới quý tộc Junker trong cơn khủng hoảng: thường thì khi gặp bất lợi, con người hay trách môi trường, ít khi soi xét bản thân.
Quả thực, tình hình chung lúc đó bất lợi cho nước Đức, nên giới quý tộc Phổ tin chắc rằng khủng hoảng chính là do thiếu thuộc địa.
Bismarck nghe thế thì tức điên người – cảm giác như bị đâm sau lưng! Vốn dĩ trong mắt ông, việc cưỡng ép các doanh nghiệp trong nước bằng biện pháp hành chính đã là một sai lầm. Tuy nhiên, trước đó, giới quý tộc Junker từng hứa sẽ ủng hộ ông nếu ông khiến Công ty Nông nghiệp Berlin phá sản. Thế mà giờ đây, chính họ lại tự gây ra h���u quả, rồi còn muốn đổ lỗi?
Dù phẫn nộ, Bismarck vẫn kìm nén, bình tĩnh đáp: “Nước Đức tuy đã thống nhất, nhưng khủng hoảng vẫn chưa qua đi. Người Pháp ngày đêm ôm mộng báo thù; quan hệ với Anh, Nga, Áo đều cần được duy trì sự cân bằng. Nếu chúng ta hành động thiếu lý trí, đánh mất uy tín quốc tế, thì nước Đức sẽ rơi vào tình thế cực kỳ nguy hiểm.”
Chính sách ngoại giao của Bismarck có phần tương đồng với Ernst: cả hai đều cố gắng giảm thiểu hình ảnh tiêu cực của đất nước mình trên trường quốc tế.
Điểm khác biệt là Đức nằm ngay trung tâm lục địa châu Âu, không thể né tránh mọi biến động, còn Đông Phi thì lại nằm cách biệt ở châu Phi xa xôi, nơi mà hầu hết người châu Âu còn chưa hiểu rõ.
Do đó, Đức không thể đứng ngoài cuộc, mọi tranh chấp ở lục địa đều phải được thận trọng cân nhắc, tránh gây ra những hậu quả khôn lường. Cách nghĩ của Bismarck là biến con hổ Đức thành một dáng vẻ vô hại, đợi đến khi thực lực sung mãn mới tung đòn đoạt bá quyền châu Âu.
Nhưng nhóm lợi ích, nhất là giới quý t���c Phổ vốn đã thuận buồm xuôi gió trong những năm qua, khó tránh khỏi sự tự mãn.
Trong mắt họ, phía trước nước Đức chỉ còn hai “ngọn núi”: Anh và Pháp. Pháp đã bị đánh bại, niềm tin vào chiến thắng đã hình thành. Chỉ còn lại Anh – nhưng hiện tại, Đức hoàn toàn không đủ sức đối đầu với Đế quốc Anh, một đế chế có hải quân Hoàng gia như ngọn núi che phủ toàn cầu, bất khả dao động.
Một nghị sĩ khác nói: “Thưa Thủ tướng, tôi đồng ý rằng tình hình quốc tế bất lợi cho chúng ta, nhưng gốc rễ vẫn là do không có thuộc địa. Thực lực tại mẫu quốc của Anh, Pháp chưa chắc đã mạnh hơn chúng ta, nhưng nhờ thuộc địa, họ có thể liên tục bổ sung nguồn lực, từ đó điều động nhân khẩu và tài nguyên khổng lồ, giành ưu thế trong chiến tranh.”
Bismarck phản bác: “Thế ngài muốn chính phủ làm gì? Đi tranh giành thuộc địa với Anh, Pháp sao? Hiện nay, hầu hết đất đai màu mỡ, giá trị đều đã bị họ phân chia xong từ cả trăm năm nay. Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha còn có lịch sử bành trướng hải ngoại hàng trăm năm. Vậy nước Đức chúng ta c�� lợi thế gì?
Hơn nữa, hải quân của chúng ta yếu ớt, đường ra biển của Đức lại bị khép kín, đi ra Đại Tây Dương còn khó khăn, thì làm sao có thể bảo hộ thuộc địa? Dù có chiếm được, chẳng khác nào làm áo cưới cho kẻ khác.
Chưa kể, quản lý thuộc địa tốn kém và rủi ro cao. Các vùng đất giàu có đã bị chiếm hết, còn chúng ta chỉ có thể giành được ‘đất nát’ thì có lợi lộc gì? Hay ngài nghĩ Đức là thiên hạ đệ nhất, không sợ bất kỳ ai, dám tuyên chiến với các cường quốc thực dân?”
Những lời lẽ như liên hoàn pháo ấy khiến các nghị sĩ Đức cứng họng. Đại diện hải quân muốn phản bác, nhưng nhìn lại lực lượng mỏng manh của mình thì đành im lặng; còn lục quân thì thản nhiên xem kịch, vì vốn đã ở thế thượng phong.
Dù vậy, giới quý tộc Junker vẫn không hài lòng. Trong đợt khủng hoảng này, họ đã lỗ nặng. Từ đợt khủng hoảng trước, giá lương thực đã rớt thảm, nay lại thêm áp lực từ Công ty Nông nghiệp Berlin (dưới trướng Hohenzollern/Hechingen), khiến họ càng thêm khó khăn. Họ ban đầu muốn ép công ty phá sản để tự mình buôn bán, ai ngờ công ty sụp thật, khiến đầu ra nông sản của họ càng thêm gay go!
Bởi vì, dù Công ty Nông nghiệp Berlin phá sản, hệ thống kênh phân phối do Hechingen thiết lập vẫn nằm trong tay họ, và chỉ được chuyển giao cho Công ty Nông nghiệp Munich. Nếu Phổ không hoan nghênh, vậy thì cứ đi Bavaria làm ăn, đất Phổ đâu phải là cả thế giới? Hơn nữa, Hechingen lại đâu thiếu đất!
Huống chi Bavaria có địa vị đặc biệt, là bang lớn thứ hai sau Phổ, đồng thời là trung tâm Công giáo, ai cũng biết ảnh hưởng của họ sâu rộng đến mức nào. Giới Junker Phổ chẳng thể làm gì được Munich cả.
Trong nghị viện, nghị sĩ Bavaria còn công khai phát biểu: “Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ Thủ tướng Bismarck. Đối với nước Đức, hòa bình là yếu tố tối quan trọng. Chúng ta nên duy trì hòa bình lâu dài, ít nhất là đảm bảo châu Âu không xảy ra chiến tranh.”
Đa số nghị sĩ Nam Đức cũng đồng tình với quan điểm này, vừa vì bất mãn với Phổ, vừa vì không muốn bị chiến tranh cuốn vào – bởi mỗi khi chiến tranh xảy ra, Nam Đức đều là bên chịu thiệt thòi.
Tuy Nam Đức không hăng hái tham gia, nhưng điều đó không ảnh hưởng đến đại cục. Bởi lẽ, nếu ngay cả nghị viện cũng không khống chế nổi, thì Phổ còn gọi gì là “thống nhất Đức”?
Cuối cùng, trong nghị viện, những người thực sự trấn áp được tình hình vẫn là Hoàng đế Wilhelm I và Thủ tướng Bismarck. Wilhelm I tuy có những ý riêng, nhưng thường ủng hộ Bismarck, bởi thực tế đã chứng minh Bismarck luôn đúng.
Trong cuộc đấu trí với giới Junker, Bismarck chiếm ưu thế, được cả một bộ phận giới Junker lẫn các nghị sĩ Nam Đức ủng hộ, buộc phe cấp tiến phải lắng xuống. Như một sự thỏa hiệp, ông mở ra “một khe cửa nhỏ”: cho phép các thế lực dân gian Đức tham gia thí điểm mở rộng hải ngoại.
Nói cách khác, Đức cũng bước lên con đường bành trướng thuộc địa, nhưng với sự tiên phong của các công ty và đoàn thể dân gian. Thực tế, trong lịch sử, phần lớn các thuộc địa của Đức ban đầu đều do các công ty thực dân chiếm được, sau đó chính phủ mới tiếp quản.
Nhưng vào lúc này, Bismarck chỉ xem đây là một động thái “làm cho có”, hoàn toàn không thật lòng muốn tranh giành thuộc địa với Anh, Pháp. Chính phủ cũng không mấy khi chịu bỏ vốn đầu tư cho việc này.
Tác phẩm dịch này là tài sản độc quyền của truyen.free.