(Đã dịch) Phi Châu Sang Nghiệp Thực Lục - Chương 450: Khủng hoảng dân số (tiếp theo)
Làn sóng nhập cư quy mô lớn đầu tiên vào Đông Phi (không tính lính đánh thuê) diễn ra vào năm 1865. Kể từ đó, số lượng người nhập cư tăng vọt, và cùng với năng lực vận tải ngày càng tăng của Đông Phi, quy mô làn sóng này càng được mở rộng.
Nói cách khác, những người nhập cư đầu tiên vào Đông Phi đã an cư lập nghiệp được chín năm. Chính đặc điểm của làn sóng nhập cư này đã khiến dân số Đông Phi hiện tại bùng nổ.
Có thể so sánh tình hình này với khu vực Đức. Tỷ lệ sinh tại Đức hiện nay khá cao, nhưng ở Đông Phi thì còn cao hơn, bởi vì Đông Phi gánh chịu phần lớn chi phí sinh nở, điều mà khu vực Đức không thể thực hiện.
Tài nguyên đất đai ở Đức bị giới quý tộc và địa chủ chi phối. Cộng với sự phát triển của nông nghiệp tư bản chủ nghĩa, nơi đây không còn tập trung vào việc sở hữu đất đai hay gia tăng lực lượng lao động, mà đặt lợi nhuận lên hàng đầu.
Mặc dù đất đai ở Đông Phi cũng thuộc sở hữu tư nhân, nhưng Ernst trước đây tập trung vào việc tạo điều kiện sống tương đối tốt cho công dân. Một trong những chính sách đó là khuyến khích cư dân Đông Phi sinh nhiều con hết mức có thể, và nhà nước sẽ gánh chịu phần lớn chi phí sinh nở.
Và những công dân Đông Phi không phải lo gánh nặng chi phí sinh nở tất nhiên sẽ sinh con hết sức có thể, đặc biệt là trong bối cảnh chưa có khái niệm hay biện pháp tránh thai.
Về cơ bản, nếu sức khỏe t��t, tỷ lệ sinh không hề thấp. Cộng với tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh cực thấp (nếu so với các quốc gia khác), dân số Đông Phi chắc chắn sẽ tăng theo cấp số nhân.
Với trình độ lực lượng sản xuất còn thấp, phần lớn chi phí này đều do dân số da đen gánh vác. Dân số da đen ở Đông Phi là hai mươi triệu, trong đó gần mười mấy triệu người đang trong độ tuổi lao động.
Vì vậy, hiện tại Đông Phi chưa cảm thấy áp lực quá lớn. Nhưng tốc độ giảm dân số da đen ở Đông Phi cũng khá nhanh. Nếu Đông Phi muốn tiếp tục chính sách này trong tương lai, phần chi phí đó sẽ chỉ có thể chuyển sang cho những người nhập cư mới.
Nhưng những người nhập cư mới sau này sẽ tiếp tục sinh con, tạo thành một vòng luẩn quẩn. Bản thân Ernst, người ủng hộ học thuyết ưu thế dân số, từng phát biểu rằng một quy mô dân số như Ấn Độ chắc chắn sẽ tạo nên một cường quốc.
Nếu để người nhập cư vào Đông Phi sinh sản không kiểm soát, một gia đình chỉ có hai lao động nhưng lại có thể nuôi mười mấy miệng ăn, thì dù có làm lụng quần quật cũng không đủ nuôi. Dĩ nhiên, cách nói này có thể hơi quá lý tưởng, nhưng ước tính thận trọng thì một gia đình có bảy, tám miệng ăn là hoàn toàn có thể xảy ra.
Ngoài tỷ lệ sinh, nhập cư cũng là một vấn đề đáng cân nhắc. Mức độ nhập cư thông thường hiện nay vào Đông Phi là khoảng hai mươi lăm nghìn người mỗi tháng, với hơn bốn trăm tàu thuyền (bao gồm cả tàu thuê và tàu buôn nô lệ) phục vụ cho công việc này.
Tính ra, mỗi năm, số lượng người nhập cư vào Đông Phi sẽ khoảng hơn ba triệu. Nếu tính đến năm 1880, sẽ có thêm hơn mười triệu dân nhập cư mới nữa.
Cần phải nói rõ, mặc dù chính phủ Đông Phi không thống kê dân số nội địa, nhưng số liệu người nhập cư hàng năm vẫn phải được thống kê. Số liệu người nhập cư là cố định, không bị thay đổi bởi tỷ lệ sinh.
Đó mới chỉ là dân số nhập cư. Thực tế, hiện nay việc di chuyển bằng tàu từ Viễn Đông và châu Âu đến Đông Phi chỉ mất hơn mười ngày. Thời gian để sắp xếp ổn định cho những người nhập cư mới này cũng không quá ba tháng. Sau khi ổn định, những người nhập cư mới này lại tiếp tục gia nhập "đội quân sinh đẻ". Quả thực, vấn đề này hơi khó giải quyết.
Đây là tình trạng nhập cư trong điều kiện lý tưởng, mà thực tế, hiện tại chính là điều kiện lý tưởng đó. Khủng hoảng kinh tế đã tạo cơ hội cho Đông Phi. Ngay cả Hoa Kỳ – một quốc gia thuần nhập cư – cũng có người di cư đến Đông Phi, có thể hình dung các khu vực khác trên thế giới sẽ thế nào.
Chính phủ Đông Phi chủ đạo trong việc thúc đẩy nhập cư. Các cơ quan nhập cư đã được thành lập tại các nước châu Âu, Đông Á và Nam Mỹ. Do đó, Cục Nhập cư Đông Phi trở thành tổ chức nhập cư có hệ thống và quy mô lớn nhất thế giới, đồng thời cũng là thương nhân buôn bán nô lệ lớn thứ hai toàn cầu.
Trên thực tế, trong thế giới hiện tại, ngoài nam giới Ả Rập, Ấn Độ và người da đen, tất cả các quốc gia khác đều là đối tượng thu hút của Cục Nhập cư Đông Phi, nhằm đáp ứng nhu cầu nhập cư của quốc gia này.
Lấy nước Đức làm ví dụ, khu vực Nam Đức bị Đông Phi thu hút một lượng lớn dân cư trong nhiều năm, nhưng tổng dân số không giảm đáng kể mà cũng không tăng thêm. Do đó, việc Đông Phi thu hút người nhập cư không gây ra thiệt hại đáng kể nào cho các quốc gia khác.
Xét cho cùng, sau cuộc cách mạng công nghiệp, dân số thế giới đã bùng nổ, vượt quá 1,27 tỷ người. Số lượng người nhập cư vào Đông Phi thậm chí còn không đáng kể.
Dĩ nhiên, Đông Phi có những đ���c điểm riêng. Do đó, nhiều trường hợp rất khác so với cách thức thu hút người nhập cư của các quốc gia châu Mỹ.
Trong điều kiện bình thường, việc nhập cư thường là hành vi tự phát của người dân, và những khó khăn khi nhập cư xuyên lục địa ở thời đại này là khá lớn.
Vé tàu nhập cư vào Mỹ chủ yếu do các công ty và doanh nghiệp thiếu hụt lao động ứng trước, sau đó trừ dần vào lương của người nhập cư. Những điều khoản này về cơ bản đã được ghi rõ trong hợp đồng. Trong khi Đông Phi trực tiếp miễn phí vé tàu. Do đó, giữa hai lựa chọn, Đông Phi rõ ràng chiếm ưu thế hơn. Xét cho cùng, Mỹ tính tiền vé tàu rõ ràng như vậy, liệu người nhập cư còn muốn đến đó làm giàu? Họ thực sự nghĩ rằng có vàng đầy đất ư?
Thứ hai là phương thức tiếp thị của Đông Phi khác biệt. Quảng cáo nhập cư của Đông Phi lại tập trung vào tính chất minh họa, khuyến khích những người đã nhập cư thành công trở về quê hương để kéo thêm người thân, bạn bè. Đông Phi thực sự dám thực hiện cách này, trong khi Mỹ chỉ có thể bịa chuyện trên báo chí đ��� lừa gạt.
Cuối cùng, người nhập cư vào Đông Phi không chỉ giới hạn ở người da trắng mà còn chú trọng cả Viễn Đông và châu Âu. Như vậy, Đông Phi đang ở thế thượng phong của thị trường người mua. Viễn Đông ở đây không chỉ là một khái niệm quốc gia mà là cả khu vực Viễn Đông theo đúng nghĩa đen.
Dĩ nhiên, ngoài những biện pháp bình thường này, Đông Phi cũng sử dụng một số chiêu thức đặc biệt, đó là việc đăng tải nguyên văn một số thông tin thực tế về tình hình nhập cư vào Mỹ trên báo chí châu Âu.
Hoa Kỳ quả thực có tiềm năng phát triển cao hơn, nhưng hầu hết mọi người, đặc biệt là những người như nông dân Đức, đều tự lượng sức mình. So với ảo tưởng làm giàu ở Mỹ, điều kiện của Đông Phi phù hợp hơn với họ.
Tiếp theo, một yếu tố đặc biệt quan trọng là hệ thống giáo dục của Đông Phi. Hệ thống này đóng vai trò lớn trong việc giảm gánh nặng chi phí sinh nở cho người dân. Cùng với việc triển khai chế độ trung học, những người sinh ra ở Đông Phi được hưởng mười năm học tập tại trường. Điều quan trọng hơn cả là các trường học ở Đông Phi còn cung cấp bữa trưa cho học sinh.
Tổng hợp lại, đến năm 1880, tổng dân số Đông Phi ít nhất sẽ vượt con số ba mươi triệu. Con số cụ thể sẽ phải đợi đến khi khởi động lại cuộc điều tra dân số mới biết được, thậm chí có thể vượt mốc bốn mươi triệu.
Khả năng sinh sản của con người trong xã hội nông nghiệp là không thể xem thường, và Đông Phi chính là một quốc gia nông nghiệp nhưng mang thuộc tính công nghiệp.
Việc hạn chế nhập cư thực chất là sàng lọc người nhập cư. Đây vốn là chính sách nhập cư ban đầu của Đông Phi, chủ yếu nhắm đến những người nghiện ma túy. Còn những vấn đề nhỏ như suy dinh dưỡng, Đông Phi không mấy quan tâm.
Hơn nữa, lần thắt chặt chính sách nhập cư này chủ yếu nhắm vào những người Đức nhập cư từ Mỹ. Mỹ xét cho cùng là cái nôi của chủ nghĩa tự do. Đông Phi, một quốc gia quân chủ chuyên chế, đương nhiên phải ngăn chặn những tư tưởng "mục nát" từ Mỹ len lỏi vào. Ngoài Mỹ, toàn bộ châu Mỹ đều không có một quốc gia quân chủ nào, điều này làm sao khiến Đông Phi có thể yên tâm được?
Nhìn chung, khoản đầu tư của Đông Phi dành cho người nhập cư thực tế đã tăng lên, chẳng hạn như việc Đông Phi rất hoan nghênh nữ giới nhập cư. Lần thống kê trước cho thấy tỷ lệ nữ giới ở Đông Phi đạt gần bốn mươi bảy phần trăm. Phần lớn những phụ nữ này có thể đến Đông Phi là nhờ được chi trả chi phí. Ngay cả phụ nữ Ấn Độ và Hồi giáo cũng được Đông Phi hoan nghênh, dĩ nhiên là trừ người da đen.
Vấn đề dân số tăng nhanh không chỉ tồn tại riêng ở Đông Phi, và bầu không khí xã hội thế kỷ 19 đã tạo điều kiện thuận lợi để Đông Phi "mua bán" được "hàng thứ cấp". Ở hầu hết các khu vực, đàn ông xét cho cùng phải kế thừa gia nghiệp, còn phụ nữ có địa vị thấp kém, thậm chí bị coi là hàng hóa để giao dịch.
Theo lẽ "lấy mỡ nó rán nó", chi phí để đón phụ nữ về Đông Phi đương nhiên do những người đàn ông độc thân ở đây chi trả thông qua công lao động. Vào thời kỳ đầu, đây còn được coi là một cơ chế khen thưởng, giúp khuyến khích tính tích cực của người nhập cư.
(Hết chương) Bản văn này được biên tập và phát hành dưới sự bảo trợ của truyen.free.