(Đã dịch) Pháp Sư Chi Thượng - Chương 389: Huyền bí hợp xướng
Sáng sớm hôm sau, đúng sáu giờ, Cao Đức tỉnh dậy khỏi giường khi vẫn còn mặc nguyên quần áo ngủ. Anh đứng dậy, bước đến bên cửa sổ, vén một góc rèm nhìn ra ngoài. Ở thành Lagos, mặt trời mọc khá sớm. Lúc này trời đã sáng rõ, những tia nắng vàng óng ả trải khắp đường phố, in bóng lác đác vài thân người kéo dài trong buổi bình minh. Những quán hàng nhỏ ven đường đã bắt đầu tấp nập, những người bán rong đẩy xe nhỏ bày bán quẩy chiên giòn và bã đậu, không khí ngập tràn mùi dầu mỡ và hương liệu. Những người phụ nữ mặc trường bào đội rổ trên đầu, len lỏi qua đám đông, trong giỏ của họ là bánh mì tươi và hoa quả. Vài cỗ xe ngựa cũ nát đỗ bên đường, người đánh xe đang ra sức mời chào khách.
Cao Đức thu lại ánh mắt, quay đầu nhìn cô bé đang ngủ say trên giường. Từng có lần lên núi tuyết hoang vắng lại gặp một "nam nhân" kiêu ngạo, rồi lần khác ra ngoài làm nhiệm vụ bình thường, vậy mà lại vô duyên vô cớ nhặt được một cô bé trên phi thuyền. Những chuyện kỳ lạ và đầy kịch tính như thế, sao cứ luôn xảy ra với anh vậy nhỉ? Đúng là một điều kỳ diệu. Điều kỳ diệu hơn nữa là, dù mới gặp lần đầu, cô bé lại tin tưởng anh tuyệt đối, cứ thế ngủ say sưa bên cạnh một người lạ mà không chút đề phòng. Tất nhiên, điều khiến Cao Đức kinh ngạc hơn cả là cô bé mới năm tuổi này lại biết rất nhiều điều. Thế nhưng, với anh, điều đó lại không quan trọng. Bởi lẽ, tính cách anh vốn là như vậy; m��t khi đã quyết định và đồng ý giúp Anna tìm chị, thì anh không còn bận tâm lắm đến bối cảnh gia đình của cô bé nữa.
Cũng như lần đầu tiên anh quen Duwe trên núi tuyết, anh biết lai lịch của Duwe không hề đơn giản, nhưng điều đó có nghĩa lý gì đâu? Anh từng trêu chọc Duwe rằng “chẳng lẽ ngươi còn muốn làm hoàng đế hay sao”, câu nói đó không chỉ là đùa giỡn mà còn thể hiện thái độ của anh: dù cho đối phương có là "thái tử" đi chăng nữa, điều đó cũng không ảnh hưởng đến mối quan hệ của anh với người đó. Giờ đây cũng vậy, dù Anna có là "công chúa" thì cũng không làm thay đổi lời hứa của Cao Đức. Tất nhiên, đây chỉ là một giả định phóng đại mà thôi.
Cao Đức lay gọi Anna, người vẫn đang ngủ say. “Ca ca......?” “Ăn sáng đi, ăn xong lại ngủ tiếp.” Cao Đức cười khúc khích, buông ra "danh ngôn độc ác" mà các bậc phụ huynh hay dùng. Sau đó, anh dắt tay Anna, người vẫn còn ngái ngủ, đi vào phòng ăn của quán trọ, cùng nhau thưởng thức bữa sáng miễn phí mà quán cung cấp: bánh mì được rắc thêm chút hạt muối vụn, một đĩa mứt hoa quả nhỏ và một chén trà mạch nóng hổi.
Là một thành phố nông nghiệp truyền thống, dù hiện tại có phần suy thoái, nhưng vẫn còn đó những giá trị cốt lõi, nên bánh mì được làm từ bột mì tinh chế chứ không phải lúa mì đen, ăn rất ngon. Chỉ có điều, đối với Anna mà nói, đây vẫn là món ăn khó nuốt. Nhìn cô bé vẫn chưa tỉnh ngủ hẳn đang cố gắng nuốt từng miếng bánh mì, Cao Đức bỗng dưng thoáng nhớ đến đại nhân Flora. Dù sao thì anh cũng đã rời Bắc cảnh được hai tháng rưỡi rồi.
Ăn sáng xong, Cao Đức đưa cô bé về phòng. Anh xoa mạnh mái tóc của Anna, vò cho nó rối bời như "tổ chim", sau đó phớt lờ ánh mắt "oán giận" của cô bé mà dặn dò: “Ở trong phòng đợi ca ca về, đừng chạy lung tung đấy nhé.” Trật tự của vương triều Plantagenet hoàn toàn không thể sánh bằng Sean Công quốc, ít nhất là trong thành, Cao Đức không quá lo lắng về sự an toàn của Anna. Anh chỉ sợ bản tính "trẻ hư" của cô bé tái phát, lại tự mình chạy ra ngoài tìm chị. Khoác thêm áo choàng, che đi phần nào quân phục lính gác biển đang mặc trên người, Cao Đức rời khỏi quán trọ Cây Cọ, thẳng tiến về phía bắc thành Lagos.
Mặc dù có tên là khu Makoko, tựa như một phần của thành Lagos, nhưng trên thực tế, nó lại cách thành phố một đoạn đường khá xa, nằm ở ngoại ô Lagos. Vì thế, Cao Đức đã đón một chiếc xe ngựa để tiết kiệm thời gian và sức lực. Càng gần khu Makoko, cảnh vật hai bên đường càng trở nên cũ nát và hoang tàn. Đường lát đá dần được thay thế bằng xỉ than và bùn lầy, bánh xe mỗi khi cán qua ổ gà lại bắn tung tóe bùn nhão lên thành xe. Tuy nhiên, trước khi khởi hành, người đánh xe đã báo trước rằng việc đi đến khu Makoko sẽ cần thêm chi phí, và Cao Đức cũng đã đồng ý. Vì vậy, người đánh xe không hề than trách gì, chỉ giơ roi thúc ngựa nhanh chóng đi qua khu vực mà ông ta miêu tả là “đến chuột cũng phải chê xúi quẩy”.
Mùi hôi trong không khí càng lúc càng nồng nặc, xộc thẳng vào mặt. Một hồ nước tối tăm, mù mịt đập vào mắt. Đây là cửa sông phía Bắc thành Lagos, c��ng là điểm khởi đầu của khu Makoko. Ven hồ, vài chiếc thuyền đánh cá cũ nát, hư hỏng nằm nghiêng ngả mắc cạn. Thân thuyền bám đầy hà biển, cánh buồm rách nát như mạng nhện, nửa thân thuyền chìm trong nước bẩn, phủ đầy những con sò hến đen sì. Phía sau những chiếc thuyền đánh cá là một mảng lớn những căn nhà lụp xụp, chen chúc, đột ngột mọc lên từ mặt nước, tựa như một khu rừng kỳ dị vươn mình khỏi làn nước ô nhiễm. Đây chính là khu Makoko, một khu ổ chuột khổng lồ được xây dựng trên Tích Hồ. Đường bộ ở đây hoàn toàn chấm dứt. Sau khi thu tiền từ Cao Đức, người đánh xe vội vã quay đầu rời đi như thể chạy trốn ma quỷ, phảng phất mỗi giây nán lại đây đều sẽ làm ô nhiễm chính mình.
Cao Đức khẽ cau mày, che miệng mũi, tiến đến gần bờ. Trong Tích Hồ, nước bẩn màu xám đục đang cuộn trào, thỉnh thoảng những bọt khí màu xanh lục lại sủi lên lụp bụp. Trên mặt nước, xác cá trắng bụng nổi lềnh bềnh cùng rau quả hư thối và đủ loại rác rưởi. Từng đợt mùi hôi thối xộc thẳng vào mũi, thật đúng là "thấm lòng người mũi", khiến người ta chỉ muốn lập tức quay đầu bỏ chạy. Cũng khó trách không có pháp sư lính gác biển nào nguyện ý nhận nhiệm vụ này, dù độ khó không cao mà phần thưởng công huân lại gấp đôi.
Khu Makoko không có những con đường truyền thống theo đúng nghĩa của nó; những con sông chằng chịt khắp nơi chính là "đường phố" của cư dân. Ở nơi đây, người dân đi lại hàng ngày đều nhờ vào thuyền bè. Cao Đức cũng không có thuyền, nhưng ở một nơi như khu ổ chuột này, chẳng có gì là tiền không giải quyết được. Cao Đức móc từ trong ngực ra hai đồng ngân long tệ, lắc nhẹ trước mặt người đàn ông, đồng thời cởi bỏ chiếc áo choàng đang thắt, để lộ quân phục lính gác biển bên trong. Anh nói: “Tôi đến đây để thực hiện nhiệm vụ tiêu diệt thủy thú, trục xuất bạch tuộc phế thải và cá cóc nước hôi. Anh hãy làm người dẫn đường cho tôi một ngày, số tiền này sẽ là của anh.” Người đàn ông nhìn hai đồng ngân long tệ, mắt sáng rừng rực, nhưng sau khi nhìn lướt qua vẻ tham lam, lại vội xua tay, cung kính nói: “Pháp sư đại nhân, ngài đ���n đây tiêu diệt thủy thú giúp chúng tôi, làm sao tôi dám nhận tiền của ngài chứ? Ngài cứ lên thuyền đi, tôi sẽ phụng sự ngài.”
Cao Đức nhảy lên thuyền, rồi trực tiếp nhét hai đồng ngân long tệ vào tay người đàn ông, nói: “Đây là việc đương nhiên.” Người đàn ông kia thật sự sợ hãi trước hai đồng ngân long tệ, run rẩy nói: “Đại nhân, ngài làm thế này là quá coi trọng tôi rồi!” “Đi thôi, gần đây các anh phát hiện thủy thú ở những chỗ nào, dẫn tôi đến đó xem trước đã.” Cao Đức xua tay, trực tiếp bỏ qua đề tài này và đi thẳng vào vấn đề chính. Người đàn ông thấy không thể chối từ, cũng không tiện nói thêm gì nữa, đành phải cầm mái chèo, đưa Cao Đức đi sâu vào khu Makoko.
Vừa lên thuyền, Cao Đức đã mở Ma Nhãn Mandora, đồng thời thi triển [Trinh Trắc Ma Pháp +] để cẩn thận quan sát mặt nước xung quanh, tìm kiếm bóng dáng thủy thú. Vừa quan sát, anh vừa trò chuyện với người đàn ông để hiểu rõ hơn về tình hình khu Makoko. Người đàn ông tên Shama, sinh ra và lớn lên tại Makoko. Vì khu Makoko từ khi thành lập đã không hề có bất kỳ quy hoạch nào, nên các con sông ở đây đều do cư dân tự phát hình thành. Chúng lúc thì hẹp, lúc thì rộng, quanh co khúc khuỷu; nơi hẹp nhất chỉ vừa đủ cho một chiếc thuyền nhỏ miễn cưỡng đi qua, còn nơi rộng nhất cũng chỉ vỏn vẹn vài trượng.
Ở đây, loại thuyền nhỏ đơn sơ, thon dài, giữa hơi rộng và hai đầu hơi nhọn mà Shama đang điều khiển chính là phương tiện giao thông chủ yếu nhất của khu Makoko. Thế nhưng, dù vậy, giao thông hàng ngày ở Makoko vẫn vô cùng hỗn loạn. Shama vừa chèo thuyền đưa Cao Đức đi chưa được bao lâu thì đã va chạm hai lần, đều là do đường sông chật hẹp khiến các thuyền nhỏ đâm vào nhau. Vụ tai nạn giao thông thứ hai thậm chí còn khiến một chiếc thuyền nhỏ lật úp, người trên thuyền rơi thẳng xuống làn nước bẩn thỉu, khiến Cao Đức nhíu chặt mày.
Thế nhưng, những người rơi xuống nước bẩn lại dường như chẳng hề bận tâm. Họ hùng hổ lật lại con thuyền, sau đó leo lên như không có chuyện gì, phớt lờ sự kinh tởm đang bám đầy người. Chứng kiến cảnh tượng đó, Shama lại tỏ ra vô cùng bình tĩnh. Bởi vì �� khu Makoko, việc va thuyền rồi rơi xuống nước là chuyện thường như cơm bữa. “Rơi vào dòng nước này, chẳng phải không thể tránh khỏi việc uống phải vài ngụm nước bẩn sao?” Cao Đức chỉ nghĩ đến cảnh tượng đó thôi đã thấy toàn thân khó chịu, dạ dày vô thức bắt đầu cồn cào.
“Đại nhân,” thế nhưng Shama lại bình tĩnh đến lạ thường, “ở nơi chúng tôi, chẳng có ai mà chưa từng uống qua nước bẩn cả. Trẻ con ở khu Makoko đều lớn lên nhờ uống thứ nước bẩn này.” Cao Đức khẽ nhướng mày, phản ứng đầu tiên là: uống thứ nước bẩn đầy vi sinh vật, ký sinh trùng và vi khuẩn như thế này, chẳng phải sẽ mang đầy bệnh tật sao? Làm sao mà cư dân ở đây trông ai nấy cũng sinh long hoạt hổ, không hề có vẻ gì là bệnh tật. Sau đó, anh chợt hiểu ra, sức thích nghi của con người thật sự rất mạnh mẽ. Những người lớn lên trong môi trường này hẳn đã sớm tiến hóa để có một hệ thống miễn dịch cực kỳ khỏe mạnh, gần như bách độc bất xâm.
Nói cách khác, nếu Cao Đức nhảy xuống làn nước bẩn này, uống ừng ực vài ngụm, với năng lực mạnh mẽ của [Tự Thích Ứng], anh có thể nhanh chóng có được sức miễn dịch mạnh mẽ tương tự như người dân bản địa Makoko. Thế nhưng… Cao Đức bỗng nhiên lắc đầu, không dám nghĩ đến cảnh tượng đó, chỉ cảm thấy một cơn rùng mình. Dường như nhận thấy Cao Đức đang tò mò về khu Makoko, trên đường đi, Shama còn nhiệt tình giới thiệu những công trình kiến trúc đặc trưng của địa phương cho anh.
“Anh nói, đó là nhà vệ sinh của các anh sao?” Cao Đức chỉ vào một căn lều đơn sơ cách đó không xa mà hỏi, lông mày vô thức nhướng lên. “Đúng vậy ạ.” Shama nghiêm túc gật đầu. Theo lời anh ta vừa giới thiệu, căn lều đó là nhà vệ sinh duy nhất mà bốn năm mươi gia đình, hơn một trăm người dùng chung. Nó lại còn là loại "không xả nước" vì được nối thẳng xuống thủy vực bên dưới, chất thải trực tiếp đổ vào trong nước. Nói cách khác, dòng nước xung quanh đây trôi nổi vô vàn phân và nước tiểu... Xét về cấu trúc đơn thuần, nơi này có phần giống với thành phố Venice nổi tiếng trên mặt nước ở kiếp trước của Cao Đức; cả hai đều là những cộng đồng trên sông nước. Thế nhưng, điểm khác biệt là, một bên là đô thị trên mặt nước, còn một bên thì lại là "đô thị toàn phân". Điều khiến Cao Đức cảm thấy khó tin nhất là anh tận mắt chứng kiến ngay trong làn nước bẩn cạnh căn nhà vệ sinh ấy, một đứa trẻ khoảng năm sáu tuổi bỗng lao ra, trên mặt còn nở nụ cười "rạng rỡ".
“Thằng bé này đang chơi nước sao?” Cao Đức hỏi Shama để xác nhận. Shama dứt khoát gật đầu. Vô địch… Cao Đức không sao hình dung được sự chấn động trong lòng mình; mọi thứ ở đây không chỉ vượt quá những gì anh biết mà còn vượt xa cả sức tưởng tượng. Ngoài nhà vệ sinh trên sông, trên đường đi anh còn bắt gặp những trường học, quán ăn, trạm y tế và các công trình công cộng đơn sơ khác, thậm chí còn có cả quán rượu. Tất nhiên, tất cả đều vô cùng đơn sơ.
Chẳng hạn như trường học, theo lời Shama giới thiệu, toàn bộ khu Makoko với hai ba mươi vạn dân cư, chỉ có vỏn vẹn hai ngôi trường, đủ sức chứa cho 200 đứa trẻ. “Ngày thường các anh sống bằng nghề gì?” Cao Đức không kìm được sự tò mò mà hỏi. “Nhặt phế liệu và đánh bắt cá,” Shama đáp lời. Việc nhặt phế liệu thì rất dễ hiểu, bởi vì toàn bộ rác thải nước bẩn của thành Lagos đều đổ dồn về đây. Trong số lượng lớn rác thải ấy, luôn có những "món hời" mà những người giàu có trong thành không thèm để mắt đến nhưng lại có thể tái sử dụng. Họ thu gom những món đồ này, sau đó vận chuyển lên đất liền để bán, dùng số tiền kiếm được đổi lấy bánh mì, quần áo và các nhu yếu phẩm sinh hoạt khác. Tuy nhiên, công việc này thường do trẻ em và phụ nữ đảm nhiệm.
Còn đàn ông thì nghề chính vẫn là đánh bắt cá. “Đánh bắt cá? Ở đây cũng có cá sao?” Cao Đức chỉ vào làn nước bẩn màu xám đục đang cuộn trào mà hỏi. “Ở đây thì không có, nhưng nếu chèo thuyền ra xa một chút, đến khu vực mà các nhà lều chưa vươn tới, thì có thể bắt được cá,” Shama giải thích. “Chính là những con cá nhỏ này đây,” vừa nói chuyện, họ vừa đi ngang qua một căn lều, nơi có người phụ nữ đang xông khói cá ngay bên ngoài. Trong chảo dầu lớn, những con cá nhỏ xếp đầu đuôi liền nhau được chiên vàng rụm, phát ra tiếng xì xèo. “Hun khô chúng rồi mang lên bờ bán, mỗi con có thể bán được một đồng thạch tệ,” Shama giới thiệu. Nhìn thấy món "cá mực vòng" quen thuộc ấy, Cao Đức suýt nữa đã không nhịn được nôn mửa. Thế nhưng, chỉ một khắc sau, anh đã không còn bận tâm đến cảm giác buồn nôn nữa, sắc mặt trở nên nghiêm túc, tinh quang lóe lên trong đôi mắt.
Trong tầm nhìn đặc biệt của Cao Đức, ở làn nước bẩn đục ngầu phía trước, một luồng linh quang ma pháp đang di chuyển. Không nghi ngờ gì, đó chính là thủy thú. Lòng Cao Đức khẽ động, pháp lực cuồn cuộn trỗi dậy, theo mạch lạc ma lực vừa được tạo dựng, nhanh chóng đi đến pháp thuật tinh hải, dẫn động mô hình pháp thuật. Tuy nhiên, bên ngoài lại không hề có bất kỳ dị tượng pháp thuật nào hiển hiện.
“Dừng lại,” Cao Đức gọi, khiến Shama, người vẫn hồn nhiên không biết gì, phải ngừng chèo. “Đại nhân, có chuyện gì sao?” Shama lập tức dừng tay chèo, miệng vô thức hỏi. Thế nhưng, anh ta rất nhanh đã sững sờ. Mặt nước phía trước thuyền bỗng cuộn trào một lát, rồi một sinh vật màu xanh thẫm giống loài thằn lằn ló đầu lên. “Cá cóc nước hôi…” Shama chỉ vào con “thằn lằn” kia, giọng run rẩy nói. Nếu trên thuyền không có Cao Đức, một pháp sư lính gác biển, thì giờ phút này anh ta đã sớm sợ đến tè ra quần rồi. Những thủy thú sở hữu sức mạnh siêu phàm này, đối với một người dân nghèo như Shama, là những sinh vật cực kỳ nguy hiểm và đáng sợ. Cao Đức thì lại vẫn điềm nhiên như không. Còn con cá cóc nước hôi vừa ló đầu lên kia cũng không hề có bất kỳ động tác nào, nó chỉ đơn thuần nhô đầu lên rồi bất động, trông có vẻ rất “thân thiện”.
Đó là [Huyền Bí Hợp Xướng +]. Đây chính là pháp thuật mà Cao Đức vừa mới thi triển.
Bản chuyển ngữ này là tài sản trí tuệ độc quyền của truyen.free và không được phép sao chép dưới mọi hình thức.