(Đã dịch) Đường Tàn - Chương 167: Phục lên
Ngay trong đêm hôm đó, phủ Đại tướng quân cũng nhận được tin tức. Một vị tướng quân đặc biệt đã đánh thức Hoàng Sào đang ngủ say trên giường để trình bày đầu đuôi sự việc: đã liên tiếp xảy ra hai vụ ám sát khác nhau.
“Lão tướng muốn tiếp cận và lôi kéo hắn, đó là điều nên làm. Dù sao hắn cũng đang đảm nhiệm vị trí tài kế được quân phủ sắp xếp.”
“Chỉ sợ có kẻ khác đang ôm dã tâm, như vậy ắt sẽ thành họa từ trong nhà. Đây là việc liên quan đến sự tồn vong của đại quân tại Lĩnh Nam đạo.”
“Dù thế nào đi nữa, tuyệt đối không thể để chuyện này tái diễn nhiều lần. Khi quân đội đang trong giai đoạn biên chế và chỉnh đốn, tuyệt đối không thể để xảy ra bất kỳ biến cố hay xáo trộn nào.”
“Còn về phía Tuần thành ty, cũng đừng lấy lý do thiếu nhân lực mà thoái thác. Nếu cảm thấy người không đủ, họ có thể điều động thêm từ số binh lính vừa được bổ sung vào quân đội thời gian gần đây.”
“E rằng điều đó không ổn, chưa kể hai vị Quân chủ suất quân phía hữu có đồng ý hay không, ngay cả vị Tổng quản kia e rằng cũng có ý kiến. Dù sao, các quân đoàn đều chịu tổn thất lớn và khá mệt mỏi, mà số nhân sự mới bổ sung cũng chưa thể đáp ứng được.”
“Hoàng Vương, tại hạ có một ý tưởng, chẳng biết có thỏa đáng không?”
“Cứ nói đừng ngại.” Hoàng Sào khoát tay nói.
“Trong thành Quảng Phủ này có một đội ngũ sẵn có, lại không có quan hệ lớn với các quân ở tiền tuyến, có lẽ vẫn giữ được lập trường khá công chính. Hơn nữa, việc này liên quan trực tiếp đến sự an nguy của họ, ngay cả vị Tổng quản kia cũng không thể dị nghị.”
Cùng lúc đó, Chu Hoài An lại trải qua một đêm trằn trọc không ngủ được, nhiều lần mơ thấy cảnh tượng Vũ cơ Cẩm Vân bị bẻ gãy tứ chi, thổ huyết đến mức quần áo nhuộm đỏ rồi chết. Và sau đó là một sự cương cứng đáng xấu hổ. Được rồi, chắc khẩu vị của mình cũng chưa đến mức biến thái như vậy chứ.
Vì vậy, trong lúc nửa mê nửa tỉnh vào lúc nửa đêm, hắn chợt nảy ra ý nghĩ, liền thẳng thừng kéo tiểu Đồ Trang đang ngủ mơ màng ở gian ngoài, từ vòng tay của bộ xương tinh cũng đang buồn ngủ, lên giường mình để “thực hiện nghĩa vụ sưởi ấm chăn chiếu”. Ngay giữa tiếng khóc lóc và van xin của đối phương, hắn ôm lấy “chiếc gối ôm sống” này – mặc dù vẫn gầy gò đến mức xương sườn lộ rõ, nhưng có hơi thở và nhịp tim ấm áp – và yên tâm ngủ một giấc ngon lành.
Đến ngày thứ hai tỉnh dậy, hắn phát hiện trên giường mình lại có ba người nằm chen chúc, cứ như một gia đình ba người, tranh nhau ôm lấy Tiểu Đồ Trang ở giữa. Hắn vừa đạp con bộ xương tinh to lớn, vẫn trơ xương kia xuống giường, chưa kịp chợp mắt lại một giấc, thì lại một lần nữa bị đánh thức bởi những phiền nhiễu không ngừng.
Bởi vì, những lời thăm hỏi cùng quà cáp chất đầy phòng khách tới tấp kéo đến, chiếm hết hơn nửa buổi sáng của Chu Hoài An. Sau khi hắn xử lý xong xuôi mọi thứ, liền có một công văn được đưa tới. Đó là công văn từ phủ Đại tướng quân Nghĩa quân, phê chuẩn cho hắn tiếp tục thực hiện giai đoạn ba của kế hoạch. Trước đây, hắn đang tiến hành một công việc trọng yếu, đó là kế hoạch tăng thu giảm chi của Nghĩa quân.
Công tác tiết lưu khá đơn giản, đó là trong tình huống có đủ nhân lực mới bổ sung, những người già yếu, bệnh tật, không thích hợp ra chiến trường được giảm biên chế, chuyển sang công tác duy trì địa phương và khai hoang đồn điền, bổ sung vào nguồn nhân lực lao động. Đặc biệt, trong việc sắp xếp các sĩ tốt bệnh tật, tàn phế của Nghĩa quân, dù công khai đều lấy danh nghĩa ân đức của Hoàng Vương, nhưng người thực hiện và đứng ra giải quyết lại là hắn, nhờ vậy mà kiếm được không ít danh tiếng tiềm ẩn.
Còn về khai nguyên, đó là việc khai thác sâu hơn tiềm năng của các thành phố do Nghĩa quân kiểm soát, bao gồm cả Quảng Châu. Bản thân thành Quảng Châu, là một cảng thị nổi tiếng về thương mại hàng hải từ thời Tần Hán đến nay, các loại tài nguyên và tiềm lực tích lũy qua nhiều năm cũng không hề nhỏ.
Các thành phố khác do Nghĩa quân kiểm soát, dù không thể sánh bằng Quảng Châu, nhưng chỉ cần có kinh nghiệm và thủ đoạn vận hành tương ứng đã thành thục, thì vẫn còn rất nhiều tiềm lực và tài nguyên tích lũy qua nhiều năm có thể khai thác thêm.
Ví như hàng trăm nghìn người Hồ bị giết, đã để lại vô số sản nghiệp trong các khu phường họ từng tụ cư đông đúc. Lại ví như các gia đình giàu có và quan lại bị tịch thu tài sản, thậm chí các kho dự trữ thuộc quyền sở hữu của quan phủ, ngoại trừ phần trực tiếp cung cấp cho quân nhu, số còn lại hoàn toàn có thể đem ra buôn bán lớn và đấu giá, rồi chuyển đổi thành các vật liệu, hàng hóa khác mà Nghĩa quân cần đến.
Việc thu gom các “tài nguyên vô chủ” bị lãng quên hoặc coi thường này, chính là áp dụng “phép đun ếch trong nước ấm”, từng bước từng bước thúc đẩy, từng bước xâm lấn và tích lũy. Cách làm này hiệu quả và thu được thành quả lớn hơn nhiều so với việc dùng thủ đoạn thô bạo như trực tiếp khám xét nhà cửa, tra tấn hay chia cắt tài sản một cách máy móc. Cũng không dễ dàng đụng chạm đến lợi ích hiện có của đa số người dân dưới quyền, tránh gây ra những phản ứng và làn sóng bất mãn lớn hơn.
Liên quan đến sự giàu có của sản vật Quảng Châu, trước đây, Hàn Dũ trong “Thượng Trịnh Quyên Thư Nam Hải” đã từng miêu tả: “Hàng ngoại quốc ngày ngày cập bến... châu báu, hương liệu, sừng tê giác, ngà voi, đồi mồi, trân bảo hiếm lạ, tấp nập vào Trung Quốc, nhiều không kể xiết.” Năm Chí Xương, Cao Lộ từ trấn Lĩnh Nam cũng từng nói: “Vật quý hiếm tụ hội, còn hơn cả hàng thuốc quý của Trường An; Hàm Phong bày ra các vật phẩm phía Nam” “bờ biển hùng vĩ là nơi bảo vật tụ họp, nơi sầm uất của Ngô Việt.”
Và ở các phiên phường sầm uất, nơi “các thương nhân ngoại quốc buôn bán tấp nập”, không chỉ có chợ ban ngày mà còn xu��t hiện chợ đêm. Thơ Trương Tịch trong “Thượng Trịnh Quyên Thư Nam Hải” có câu: “Chợ đêm huyên náo, màu sắc biển cả hướng về kinh thành.” Lấy ví dụ các loại hàng hóa số lượng lớn tích tụ ở đó – hương liệu:
Từ các loại hương liệu dùng trong ẩm thực, dược liệu phổ biến như hạt tiêu, cây mạt dược, cây hương trầm, lá quế, mê điệt hương; đến cam tùng, tô hợp, an tức hương, nghệ, nại đa, cùng la, đinh hương dùng để đốt xông; các loại ngọc bội, hương liệu tẩm giám. Từ trầm hương, đàn hương, xạ hương, ô trầm hương, bạch não hương, bạch chỉ, độc hoạt, nhũ hương, trần hương từ hải ngoại; đến các loại hương liệu bản địa như tam nại, hoắc hương, cảo bản, củ giềng, hồi hương, mộc hương, tế tân, đại hoàng.
Thậm chí các loại nguyên liệu và bán thành phẩm như long não, huyết kiệt, kim nhan hương, xà bách hương, dầu tô hợp hương, sơn chi hoa, nước hoa tường vi, sạn hương, khoái thì hương, cửu vàng hương, an tức hương, hạt nhục đậu khấu, bưởi bùng, bạch đậu khấu, cam túc cả, long tiên hương, không thực tử, cây a nguỵ, lô hội, một bát tề, chim đầy tử, xạ hương mộc, hầu như đều có thể tìm thấy hàng mẫu tương ứng tại đây.
Và thủ công nghiệp Lĩnh Nam đời Đường so với các triều đại trước đó có tiến bộ rõ rệt, chủ yếu thể hiện ở việc ngành sản xuất được mở rộng, các ngành khai khoáng, gốm sứ, chế muối, đóng thuyền đều có chỗ đứng trong nước; kỹ thuật sản xuất cũng được nâng cao và đổi mới, xuất hiện một số sản phẩm chất lượng tốt, dễ tiêu thụ tại bản xứ và các nơi khác. Trong đó, ngành gốm sứ và dệt tơ chịu kích thích từ thị trường hải ngoại, sản phẩm được xuất khẩu số lượng lớn ra nước ngoài.
Đời sau, người đời Tống là Chu Khứ Phi trong tác phẩm “Lĩnh Ngoại Đại Đáp” có viết: “Thuyền lớn thuyền sâu rộng mỗi chiếc dài mười mấy trượng, thương nhân chia nhau chứa hàng, mỗi người có khoảng mấy thước, dưới dùng chứa đồ, đêm nằm bên trên. Hàng hóa đa phần là đồ gốm, to nhỏ đủ loại, không có một tấc đất nào trống.” Theo sự mở rộng việc trồng trọt các loại cây như dâu, bông, đay, tre, gai, ngành dệt Lĩnh Nam đời Đường có bước phát triển lớn. Thơ Vương Kiến trong “Thượng Trịnh Quyên Thư Nam Hải” có câu: “Bướm trắng từng đàn bay lượn, cây chuối lửa cắm khắp nơi.”
Quảng Châu cũng là một trong những trung tâm đóng thuyền nổi tiếng ở phía Nam, cùng với Dương Châu, Hồng Châu, Minh Châu. Thiên Bảo năm thứ hai, hải tặc Ngô Lệnh riêng phạm quận Vĩnh Gia (nay là Ôn Châu, Chiết Giang), triều đình lệnh Lĩnh Nam tuần sát sứ, Nam Hải Thái thú Lưu Cự Lân dẫn thủy sư lên phương bắc chinh phạt. Khi cao tăng Giám Chân của chùa Đại Vân Dương Châu chuẩn bị lần thứ hai đông độ Nhật Bản, ông đã dùng 80 xâu tiền từ lò đúc tiền để mua một chiếc thuyền quân sự của Lưu Cự Lân. Trên thuyền có 17 tăng nhân, 18 thủy thủ, cùng 85 thợ thủ công chuyên về ngọc điêu khắc, hội họa, khắc Phật, chạm khắc, đúc chữ, thêu thùa, tu sửa văn vật, và khắc bia, tổng cộng 120 người. Họ còn chuẩn bị một lượng lớn lương thực, tượng Phật, kinh Phật, hương liệu, thuốc men và nhiều vật phẩm khác.
Đức Tông Hưng Nguyên năm đầu, Đỗ Hựu được cử làm Tiết độ sứ Lĩnh Nam, tại Quảng Châu ông đã đốc thúc chế tạo các loại chiến thuyền, gồm sáu loại: l��u thuyền, trùng thuyền, đại chiến thuy���n, thuyền nhẹ, du thuyền, và cốt thuyền biển. “Những thuyền này rộng hẹp, dài ngắn, lớn nhỏ tùy theo mục đích sử dụng, chở được ít hay nhiều người, tất cả đều được tính toán theo một thước đo nhất định, mỗi người tính 2 thạch. Các trang bị như mái chèo, sào, buồm, bạt, dây buộc, neo chìm, bánh lái... đều không khác gì thuyền thông thường.”
Và dân gian còn lưu truyền một loại thuyền có nguồn gốc từ khu vực vịnh Ba Tư, không cần bất kỳ chiếc đinh hay mộng ghép nào, đó là kỹ thuật đóng thuyền gỗ bằng cách khâu các tấm ván bằng sợi báng. Thi sĩ Lưu Tuân đời Đường đã miêu tả về cây báng rằng: “sinh trưởng ở các thung lũng núi Quảng Nam, cành lá tươi tốt, khác với các cây nhỏ như táo, cau. Dưới lá có râu như đuôi ngựa. Người dân dùng vỏ cây dệt thành vải khăn. Khi được ngâm nước, nó càng trương to, mềm và dai, nên người xưa dùng nó để buộc các thuyền lớn mà không cần đinh sắt.”
Người đương thời còn phát minh ra phương pháp dùng “đường ô liu” để trét khe thuyền: “Ô liu,... nhựa cây từ cành tiết ra như nhựa đào, người dân phương Nam dùng vỏ và lá cây chiên lên, pha chế thành thứ như đường đen, gọi là đường ô liu. Dùng nó để trét khe thuyền, sau khi trát xong thì phủ sơn nhựa cây, ngâm nước càng thêm kiên cố.”
Mặt khác, Đầu thời nhà Đường, triều đình phổ biến thống nhất chế độ tiền tệ, sử dụng tiền đồng, đồng thời dùng vải vóc và lương thực. Nhưng Lĩnh Nam, do đã lâu đời thông thương với nước ngoài qua đường biển, vẫn duy trì tập tục sử dụng vàng bạc từ thời Lưỡng Tấn, tiền đồng cũng được dùng song song. Do đó, lượng vàng bạc lưu thông và dự trữ trong dân gian cũng là một con số rất lớn.
Căn cứ theo “Thiên Bảo Địa Chí Tàn Quyển” được phát hiện ở Đôn Hoàng đời sau, ghi chép số vốn công giải (chi tiêu của nha môn) của mỗi quận: Lĩnh Nam tổng cộng có 65 quận, trong đó 18 quận dùng tiền đồng cho công giải, 33 quận dùng bạc trắng, còn lại đều sử dụng hỗn tạp.
Tình trạng này hình thành là bởi vì, một mặt, vàng bạc chính là một tiêu chuẩn tiền tệ được công nhận rộng rãi trong giao thương đường biển. Và theo gốm sứ, trà, giấy và các loại đặc sản được xuất khẩu số lượng lớn, khiến vàng bạc từ hải ngoại chảy vào. Các nước Ả Rập, Ba Tư có giao thương rộng rãi với nhà Đường đều sử dụng tiền vàng, thương nhân ngoại quốc đã không ngừng mang tiền vàng Ba Tư và Ả Rập vào Quảng Châu, biến Lĩnh Nam thành nguồn cung vàng bạc dồi dào và liên tục cho thị trường.
Số vàng bạc được đưa vào Lĩnh Nam này được gọi là “Nam Kim”. Quyền Đức Dư trong “Đỗ Công Hoài Nam Bi Ký” có viết: “Vùng đất phương Nam này nằm cạnh biển, voi phương Nam có răng vàng, buôn bán hàng hải tấp nập.” Quyền Thị trong “Từ Công Mộ Chí Minh” đã nói: “Ngoài Minh Tăng, có vạn thuyền buôn lớn, thông qua ngà voi và nam kim, tiếng tăm lẫy lừng.” Thơ Vương Kiến trong “Thượng Trịnh Quyên Thư Nam Hải” nói rằng: “Thành thị ồn ào, sơn tặc tan tác, thuyền biển mang tiền vàng đến.” Thuyền lớn từ biển cập bến, ngoại thương dùng vàng bạc mua sản phẩm Trung Quốc, dẫn đến lượng vàng bạc gia tăng và giá vàng giảm trong thời gian dài.
Mặt khác, Lĩnh Nam còn là khu vực sản xuất vàng bạc quan trọng của nhà Đường. Trong “Tân Đường Thư” quyển 43 “Địa lý Chí” ghi chép, cả nước có 73 châu sản xuất vàng và 68 châu sản xuất bạc. Lĩnh Nam có lần lượt 39 châu sản xuất vàng và 47 châu sản xuất bạc, chiếm 61,9% và 69,12% tổng số toàn quốc. Căn cứ sử liệu, phần lớn tập trung ở các châu ven bờ phía tây.
Lưu Tuân đời Đường có nói: “Trong Ngũ Lĩnh, các châu như Quý Châu, Tân Châu, Trừng Châu có dòng suối lớn sản sinh vàng. Người dân sống gần đó dùng rổ tre đãi vàng làm nghề.” Tăng Huyền trong “Tống Biệt Đại Lộ Đắc Báo Đáo Hồi Trung Đề Yếu Địa Sơn Tự Tứ Thủ” có câu: “Động đình nhiều đá lạ, thiếu nữ Man tộc một nửa đãi vàng.” Lời chú thích ghi rõ: “Ở Quý Châu có núi đá lạ, huyện Bôi Nhai lấy nghề đãi vàng làm nghiệp.” Còn có ghi chép nói, huyện Hàm Quang, Quảng Châu có ao vàng: “Người dân sống quanh đó bỗng nhiên nuôi ngỗng vịt, thường thấy trong phân của chúng có mảnh vàng. Thế là họ nuôi nhiều hơn, thu phân rồi đãi, mỗi ngày được một hoặc nửa lạng, nhờ vậy mà trở nên giàu có.”
Sau trung Đường, các mỏ bạc màu mỡ trong nước nhiều lần bị cấm khai thác, nhưng riêng Lĩnh Nam thì không bị ảnh hưởng, để tự nhiên phát triển, không có thêm sự can thiệp nào. Ví như chiếu thư tháng Sáu năm Nguyên Hòa thứ ba (808) viết: “Thiên hạ có núi bạc ắt có mỏ đồng; người khai thác đồng có thể dùng lò nung quạt gió, còn người khai thác bạc thì vô ích với dân. Cân nhắc quyền lợi nặng nhẹ, nên tập trung vào một công việc. Nếu khắp thiên hạ, từ Ngũ Lĩnh trở lên phía bắc phát hiện mỏ bạc màu mỡ, cần phải cấm đoán thích đáng. Nếu ở phía bắc Ngũ Lĩnh có một hai người tàng trữ bạc, cần phải giao cho châu phủ, quan lại sẽ luận tội.”
Cho nên nói, Lĩnh Nam đạo là nguồn cung kim loại quý lớn nhất và quan trọng nhất của cả đời Đường. Mặc dù ở khu vực tây bắc, còn có sự đưa vào từ thương mại Con đường Tơ lụa Tây Vực, thế nhưng quy mô thương nghiệp duy trì bằng lạc đà và đoàn ngựa thồ, dù sao vẫn không thể nào sánh bằng hiệu suất vận tải đường thủy hàng nghìn dặm với cả đoàn thuyền lớn trên biển.
Hơn nữa, bởi vì sau thời Trung Đường, các vùng rộng lớn như An Tây, Bắc Đình, thậm chí Hà Tây, Lũng Hữu lần lượt thất thủ, thương mại Con đường Tơ lụa phía tây bắc cũng chịu ảnh hưởng rất lớn. Dù ba mươi năm trước Thổ Phiên đã bị diệt, và Nghĩa quân đã khôi phục vùng Hà Lũng để giúp đỡ triều đình, nhưng các tuyến đường thương mại bị cắt đứt vẫn không thể khôi phục hoàn toàn.
Do đó, mức độ phụ thuộc của triều đình vào thương mại đường biển ở Lĩnh Nam thực tế còn lớn hơn rất nhiều so với thời Sơ Đường và Trung Đường.
(Tấu chương xong)
Mọi bản quyền biên tập văn bản này đều thuộc về truyen.free, nơi những câu chữ được thổi hồn.